Chương 1: Một số van đề về ly than 1.1 Khái niệm và đặc điểm của ly thân 1. Khái niệm ly thân Kết hôn là một sự kiện trọng đại trong cuộc đời mỗi người. Thông qua đó, con người xác lập quan hệ mới với những người mới và tạo thành gia đình - tế bào của xã hội. Gia đình có vai trò quan trọng đối với bất kỳ cá nhân nào, cũng như đối với bất kỳ quốc gia nào, dù ở thời kỳ xa xưa hay thời kỳ hiện đại.
Chính vì vậy, hôn nhân và hạnh phúc gia đình được bảo vệ bởi rất nhiều quy phạm xã hội như pháp luật, phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo. Những quy phạm xã hội trên có nhiều quy định được thực hiện xuyên suốt lịch sự phát triển của xã hội dé con người gìn giữ hạnh phúc gia đình. Tuy nhiên, khi xã hội ngày càng phát triển, sự phức tạp của những mối quan hệ giữa các chủ thé đã làm phát sinh nhiều van đề mới. Ngày càng xuất hiện nhiều van đề rắc rối, phức tạp dẫn đến những mâu thuẫn, xung đột giữa vợ chồng.
Trước tình hình đó, bên cạnh ly hôn, vợ chồng đã có một lựa chọn khác khi đời sống hôn nhân trở nên căng thăng, đó là ly thân. Ly thân là một hiện tượng xã hội đã xuất hiện từ lâu, nhưng có xu hướng ngày càng phổ biến trong xã hội hiện đại — nơi nhiều yếu tổ (công việc, trách nhiệm với xã hội.) tác động tới hôn nhân, khiến vợ chồng không duy trì được hạnh phúc gia đình. Thuật ngữ trên chưa có định nghĩa chính thức trong Luật Hôn nhân va Gia đình năm 2014 và các văn ban liên quan. Vậy nên, hiện nay các khái niệm về ly thân đều xuất phát từ quan điểm cá nhân của các học giả và các công trình nghiên cứu.
Theo Từ điển Luật học: “Ly than việc vợ chông cham ditt nghĩa vụ sống chung với nhau trong khi quan hệ hôn nhân chưa hoặc không chấm dứt ”3. Ö đây cần làm rõ thé nào là “cham dứt nghĩa vụ sông chung”. Căn cứ khoản 2 Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: “Vợ chong có nghĩa vụ song chung với nhau, trừ trường hop vợ chong có thỏa thuận khác hoặc do yêu cau của 3 Trường Đại học Luật Hà Nội, Tir điển Luật học - Viện Khoa học Pháp bj, Bộ Tư pháp 2006, NXB Bách Khoa. nghệ nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và ly do chính đáng khác ” Theo đó, về nguyên tắc, vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau.
Biểu hiện của hành vi sống chung là việc sinh sống trong cùng một ngôi nhà, đăng kí trên cùng một hộ khâu, diễn ra các hoạt động sinh hoạt thường nhật. Tuy nhiên, trong trường hợp có thỏa thuận hoặc vì các ly do chính đáng khác, nghĩa vụ sống chung sẽ không bắt buộc phải thực hiện trên thực tế; thay vào đó, vợ chồng có thể đăng kí tạm trú, thường trú ở những địa điểm khác nhau và không có đời sống sinh hoạt chung. Như vậy, ta có thé hiểu “nghia vu sống chung” là hành vi sinh sông và sinh hoạt hàng ngày của vợ chồng trên cùng một không gian địa lý nhất định và có sự tương tác qua lại thường xuyên. Từ đó, suy ra “cham dứt nghĩa vụ sống chung” là: việc vợ chồng không thực hiện hành vi sinh sống, làm việc và sinh hoạt hàng ngày trên cùng một không gian địa lý nhất định và không có sự tương tác qua lại thường xuyên.
Tuy nhiên, theo quan điểm của người viết, dau hiệu “cham đứt nghĩa vụ sống chung” chưa phản ánh đúng bản chất của vấn đề ly thân mà chỉ là một trường hợp ngoại lệ của khoản 1 Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Bởi nếu chi dựa trên dau hiệu nay dé xác định quan hệ ly thân giữa vợ chồng là không phù hợp. Điểm cơ bản trong tinh trạng ly thân nằm ở yếu tố tình cảm giữa hai vợ chồng. Trên thực tế, có nhiều cap vợ chồng do đặc thù công việc mà không sinh sống cùng nhau, nhưng vẫn duy trì tình cảm.
Ngược lại, thực tế có những cặp vợ chồng đã có cuộc sông tách bạch rõ ràng trong sinh hoạt chung, trong van dé tai sản, chăm sóc con cái và không còn gan bó với nhau ngay khi van còn song chung trong một ngôi nhà. Tác giả Phan Thị Vân Hương và Trần Minh Tuấn cũng có quan điểm tương tự: “.không nên lấy tiêu chi chung sống dé phân biệt ly thân và không ly thân. Việc không cùng chung sống của vợ chong không nên quan niệm là tình trạng pháp ly, mà tình trạng pháp ly ở đây chỉ nên xác định là vo chong hay không là vợ chông hợp pháp mà thôi. Ly thân chỉ đơn giản là việc vợ chong tự nguyện không thực hiện nghĩa vụ chung sống giữa vợ và chong khi có mâu thuân xảy ra nhưng không cham dứt hôn nhân”*.
Do đó, khái * Phan Thị Vân Hương — Trần Minh Tuấn, Mot số y kién vé ché dinh “Ly than” trong du thao swa đổi Luật Hôn nhân và gia đình, Báo điện tử Tòa án nhân dân tối cao, xem thêm tại: http://hvta.vn/portal/page/portal/tandtc/baiviet?p page Id=l&p cateid=1751909&article_ details=l&1tem _id=35559277 [truy cập ngày 21/2/2021] niệm trên chưa phản ánh được đây đủ các khía cạnh của khái niệm ly thân, mà mới chỉ đê cập đến hình thức phổ biến của ly thân trên thực tế - vợ chồng không sống chung. Một quan điểm khác về ly thân là: “Ly than là tình trạng hai bên vợ chong vẫn chưa cham ditt quan hệ hôn nhân và có nghĩa vụ doi với con chung, tài sản chung và những nghĩa vụ khác trong quan hệ hôn nhân, nhưng không còn nghĩa vụ sống chung với nhau do cơ quan có thẩm quyên công nhận theo yêu câu của hai vợ chong hoặc của vợ, chẳng.” Khái niệm này khá tương tự với khái niệm được nêu trong Từ điển Luật học, nhưng có nêu thêm hai đặc điêm cơ bản. Thứ nhất, về thời điềm diễn ra ly thân, tương tự như khái niệm được nêu trong Từ điển Luật học, khái niệm này cũng cho rang ly thân là hành vi xảy ra khi quan hệ hôn nhân chưa chấm dứt. Nói cách khác, ly thân phải diễn ra trong thời kì hôn nhân, tức là tại thời điểm quan hệ hôn nhân chưa hoặc không bị chấm dứt bởi một sự kiện pháp lý hay một quyết định/ bản án của Tòa.
Thứ hai, về nghĩa vụ của vợ chồng trong thời kì ly thân, khái niệm này làm rõ các nghĩa vụ của vợ chồng khi ly thân, bao gồm: nghĩa vụ đối với con chung, tài sản chung và các nghĩa vụ khác. Xuất phát từ việc ly thân xảy ra khi các bên chưa châm dứt hôn nhân, VỢ chồng vẫn có trách nhiệm trong các quan hệ xã hội mà Luật Hôn nhân và Gia đình điều chỉnh. Do đó, các nghĩa vụ về nhân thân, về tài sản và nghĩa vụ đối với con chung vẫn tiếp tục được duy trì, thực hiện. Như vậy, mặc dù vợ chồng có khúc mắc, thuẫn thuẫn về vấn đề tình cảm, nhưng trong khoảng thời gian ly thân, họ vẫn phải thực hiện các quyên, nghĩa vụ của vo chông, của cha mẹ vì về mặt pháp lý, quan hệ hôn nhân giữa họ vẫn còn tôn tại.
Thứ ba, về sự công nhận của cơ quan có thầm quyên với van đề ly thân, tương tự như trường hợp kết hôn, ly thân cần có sự xác nhận của cơ quan chính quyền. Việc kết hôn (xác lập quan hôn nhân) dẫn đến phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa vợ chồng (về nhân thân, về tài sản). Dé bảo vệ quyền lợi của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, sự công nhận của cơ quan có thâm quyền khi kết hôn là cần thiết. Còn đối với ly thân, vợ chồng chỉ không còn nghĩa vụ sông chung còn các quyên, nghĩa vụ khác vê nhân thân và tai sản van tôn tai.
5 Đoàn Thị Ngọc Hải (2019), Sw cần thiết luật học của chế định ly thân trong Luật Hôn nhân và Gia đình, Tap chí Toa án Nhân dân điện tử, tai website: https://www.vn/bai-viet/phap-luat/su-can-thiet-luat-hoa-che-dinh- ly-than-trong-luat-hon-nhan-va-gia-dinh, [truy cập ngày 26/01/2021] Do đó, vẫn cân có sự vào cuộc, tham gia của cơ quan chức năng đê đảm bảo quyên lợi của vợ chồng trong giai đoạn này. Bên cạnh đó, thực tế cho thấy, ly thân dẫn đến nhiều thay đổi trong đời sống hôn nhân như thay đổi về nơi ở, về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con cái. Do đó, sự tham gia của Nhà nước là cần thiết để đảm bảo trật tự xã hội. Việc Nhà nước nắm rõ được sự thay đổi cơ bản trong tình trạng sinh sống, hoàn cảnh sinh hoạt giữa vợ chồng có thé giúp đỡ cho các bên trong trường hợp cần thiết, cũng như đảm bảo việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của các bên liên quan tới quan hệ hôn nhân.
Ngoài ra, sự công nhận của cơ quan nhà nước có thâm quyền giúp cho các thỏa thuận cua vợ chồng trong giai đoạn ly thân được ghi nhận và đảm bảo thực hiện. Chang han nhu thỏa thuận về tai sản chung hay con chung, nếu được chứng nhận bởi cơ quan Nha nước, thì thỏa thuận sẽ được đảm bảo thực hiện và các bên cũng có ý thức, trách nhiệm hơn trong việc thực hiện. Vậy nên, sự công nhận của Nhà nước về ly thân là cân thiết. Kế thừa những yếu tố hợp lý của các quan điểm đã nêu, có thê hiểu ly thân như sau: “Ly thân là tình trạng quan hệ giữa hai chủ thé trong quan hệ hôn nhân, trong do hai bên thỏa thuận cham ditt nghĩa vụ sống chung hoặc có sự tách bạch trong đời sống chung khi hôn nhân chưa hoặc không cham dứt”.
Đặc điểm của ly thân Ly thân là tình trạng quan hệ không hiếm trên thực tế, tuy nhiên, không dễ để có được thông tin chính xác về vấn đề này. Điều này là bởi việc ly thân xuất phát từ sự thỏa thuận giữa hai vợ chồng trong thời kì hôn nhân. Cùng với đó, dưới góc độ xã hội, ly thân không được đón nhận như một sự kiện tốt đẹp trong quan hệ vợ chồng, do vậy, các cặp đôi chọn cách ly thân trong nội bộ và không công khai. Vì thế, ở những quốc gia không quy định về van dé này, chính quyền rất khó nắm bat rõ ràng, cu thé về ly thân.
Chính bởi vợ chồng không hề có các yêu cầu nào với chính quyền, nên về cơ bản, đặc điểm của ly thân không được nắm bắt và nhận thức đúng đắn, đầy đủ.