ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là là một quốc gia phát triển đi lên từ nông nghiệp. Trong suốt chiều dài phát triển của dân tộc, nông nghiệp luôn là ngành có đóng góp tích cực trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nƣớc. Nƣớc ta có khí hậu nhiệt đới gió mùa đƣợc thiên nhiên ƣu đãi nên thuận lợi cho sự phát triển của cây trồng, nhƣng đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát sinh, phát triển của sâu bệnh, cỏ dại gây hại mùa màng. Lịch sử phát triển nông nghiệp trên thế giới và ở Việt Nam cho thấy: sản xuất phải gắn liền với bảo vệ sản xuất.
Càng thâm canh thì yêu cầu phòng trừ dịch hại, bảo vệ sản xuất càng tăng. Do vậy việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu bệnh hại, dịch bệnh để bảo vệ mùa màng là biện pháp quan trọng và chủ yếu. Trong sản xuất nông nghiệp ở nƣớc ta các loại thuốc bảo vệ thực vật đã đƣợc sử dụng nhiều năm trƣớc đây. Nhƣng do kỹ thuật lạc hậu thiếu thông tin và do chủng loại thuốc còn nghèo nàn nên ngƣời dân sử dụng nhiều loại thuốc BVTV có độc tính cao, tồn lƣu lâu trong môi trƣờng.
Những năm gần đây, do thâm canh tăng vụ, do thay đổi cơ cấu cây trồng,một phần do ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu nên tình hình sâu bệnh diễn biến phức tạp hơn.Vì vậy số lƣợng và chủng loại thuốc BVTV sử dụng cũng tăng lên. Trong vòng 10 năm trƣớc tính đến năm 2012, lƣợng thuốc bảo vệ thực vật tăng gấp 2,5 lần, số loại thuốc đăng ký sử dụng tăng lên 4,5 lần. Theo Tổng cục hải quan trong 5 năm gần đây, mỗi năm Việt Nam chi khoảng nửa tỷ USD để nhập khẩu thuốc BVTV. Trong 6 tháng đầu năm 2016, Việt Nam chi tới 346 triệu USD (hơn 7.600 tỷ đồng) để nhập khẩu nguyên liệu và thuốc BVTV.
Cơ cấu thuốc BVTV sử dụng cũng có nhiều biến động: thuốc trừ sâu giảm trong khi thuốc trừ cỏ, trừ bệnh gia tăng cả về số lƣợng và chủng loại; ngoài ra các loại thuốc kích thích tăng trƣởng, các loại thuốc trừ chuột, trừ ốc, mối ….cũng tăng về số lƣợng.Việc sử dụng thuốc BVTV trong phòng trừ dịch hại, sử dụng tùy tiện không tuân thủ các quy trình kỹ thuật,không đảm bảo thời gian cách ly cho từng loại thuốc đã dẫn đến hậu quả nhiều trƣờng hợp bị ngộ độc thực phẩm, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, 1 đồng ruộng bị ô nhiễm. Theo thống kê của Bộ Y tế, trung bình mỗi năm Việt Nam có khoảng 150 – 200 vụ ngộ độc thực phẩm với 5000 – 7000 ngƣời mắc.Năm 2015( đến hết ngày 31/12/2015), toàn quốc ghi nhận 179 vụ ngộ độc thực phẩm với 5552 ngƣời mắc, 5147 ngƣời đi viện và 23 trƣờng hợp tử vong; trong 6 tháng đầu năm 2016 (từ ngày 1/1/2016 đến hết ngày 30/6/2016), toàn quốc có 68 vụ ngộ độc thực phẩm, với 2080 ngƣời mắc, 1673 ngƣời đi viện và 4 trƣờng hợp tử vong.Đồng thời chất lƣợng môi trƣờng nƣớc, đất bị suy giảm, tác động xấu tới các loài động vật. Gây độc cho bầu không khí và ảnh hƣởng đến sức khỏe của con ngƣời. Hà Trung là huyện đang trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp, dịch vụ phát triển; là huyện có đóng góp quan trọng cho kinh tế toàn tỉnh Thanh Hóa.
Hoạt động sản xuất nông nghiệp của huyện vẫn đƣợc chú trọng nhƣng diện tích đất nông nghiệp có phần đƣợc chuyển đổi nên diên tích sản xuất giảm. Hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện cơ bản là quy mô nhỏ, việc sử dụng hóa chất BVTV còn nhiều bất cập. Thói quen sử dụng hóa chất BVTV không đảm bảo vệ sinh an toàn lao động đã gây ảnh hƣởng trực tiếp đến sức khỏe cộng đồng và làm ô nhiễm môi trƣờng. Xuất phát từ những vấn đề thực tế nêu trên khóa luận với đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật tại xã Hà Vân, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa” đã đƣợc thực hiện.
Nghiên cứu đề tài này nhằm đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng thuốc BVTV của ngƣời dân xã Hà Vân từ đó đề xuất các biện pháp quản lý và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật một cách hợp lý, giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm môi trƣờng,ảnh hƣởng sức khỏe ngƣời dân do sử dụng thuốc BVTV không đúng quy định gây ra. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về thuốc bảo vệ thực vật 1. Khái niệm thuốc bảo vệ thực vật Thuốc BVTV là những hợp chất hóa học (vô cơ, hữu cơ), những chế phẩm sinh học (chất kháng sinh, vi khuẩn, nấm siêu vi trùng, tuyến trùng….) những chất có nguồn gốc thực vật, động vật, đƣợc sử dụng để bảo vệ cây trồng và nông sản , chống lại sự phá hại của những sinh vật gây hại (côn trùng, nhện, tuyến trùng, chuột , chim, nấm, vi khuẩn, rong rêu, cỏ dại….) Theo quy định tại điều 1, chƣơng 1 điều lệ quản lý thuốc bảo vệ thực vật (ban hành kèm theo nghị định số 58/2002/NĐ-CP ngày 03/6/2002 của chính phủ), ngoài tác dụng phòng trừ các sinh vật có hại cho tài nguyên thực vật, thuốc BVTV còn bao gồm các chế phẩm có tác dụng điều hòa sinh trƣởng thực vật, các chất làm rụng lá, làm khô cây, giúp cho việc thu hoạch mùa màng bằng cơ giới đƣợc thuận tiện (thu hoạch bằng máy móc), những chế phẩm có tác dụng xua đuổi hoặc thu hút các loài sinh vật gây hại cho tài nguyên thực vật đến để tiêu diệt.
Phân loại thuốc bảo vệ thực vật Phân loại theo tính độc Các nhà sản xuất luôn ghi rõ tính độc, đơn vị đo lƣợng thƣờng đƣợc biểu thị dƣới dạng LD50 (Lethal Dose 50) và tính bằng mg/kg cơ thể. Các loại thuốc BVTV đƣợc chia mức độ độc nhƣ sau: 3 Bảng 1.1 : Phân loại độ độc của thuốc trừ dịch hại ( theo quy định của WHO) Trị số LD50 của thuốc (mg/kg) Dạng lỏng Dạng rắn Qua miệng Qua da Qua miệng Qua da Rất độc ≤ 20 ≤ 40 ≤5 ≤ 10 Độc 20 – 200 40 - 400 5 – 50 10 – 100 Độc trung bình 200 - 2000 400 - 4000 50 – 500 100 – 1000 Ít độc >2000 >4000 >500 >1000 (Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV)[9] Trong đó: - LD50: liều lƣợng chất độc cần thiết giết chết 50% chuột thực nghiệm, giá trị LD50 càng nhỏ, chứng tỏ chất độc đó càng mạnh. - Liều 5mg/kg thể trọng tƣơng đƣơng một số giọt uống hay nhỏ mắt. - Liều 5 – 50mg/kg thể trọng tƣơng đƣơng một thìa cà phê.
- Liều 50 – 500 mg/kg thể trọng tƣơng đƣơng hai thìa súp.2: Phân loại nhóm độc của thuốc trừ dịch hại Nhóm độc Nguy hiểm Báo động Cảnh báo Cảnh báo (I) (II) (III) (IV) LD50 qua miệng < 50 50 - 500 500 - 5000 >5000 (mg/kg) LD50 qua da < 200 200 - 2000 2000 - 20000 >20000 (mg/kg) LD(%) qua hô hấp <2 0.3: Bảng phân loại độ độc thuốc BVTV ở Việt Nam và các hiện tƣợng về độ độc cần ghi trên nhãn LD50 đối với chuột (mg/kg) Nhóm Chữ Hình tƣợng Vạch Qua miệng Qua da độc đen (đen) màu Thể Thể Thể Thể rắn lỏng rắn lỏng Đầu lâu xƣơng Nhóm Rất chéo trong hình Đỏ ≤50 ≤200 ≤100 ≤400 độc I độc thoi vuông trắng Chữ thập đen Nhóm Độc >50 - >200 – >100 - >400 - trong hình thoi Vàng độc II cao 500 2000 1000 4000 vuông trắng Đƣờng chéo Xanh Nguy không liền nét 500 - >2000 Nhóm nƣớc >1000 >4000 hiểm trong hình thoi 2000 – 3000 độc biển vuông trắng III Cẩn Không biểu Xanh >2000 >3000 >1000 >4000 thận tƣợng lá cây (Nguồn: Nguyễn Trần Oánh và cs, giáo trình sử dụng thuốc BVTV)[9] Phân loại theo đối tượng phòng chống Thuốc trừ sâu (insecticide): gồm các chất hay hỗn hợp các chất có tác dụng tiêu diệt, xua đuổi hay di chuyển bất kỳ loại côn trùng nào có mặt trong môi trƣờng. chúng đƣợc dùng để diệt trừ hay ngăn ngừa tác hại của côn trùng đến cây trồng, cây rừng, nông lâm sản, gia súc và con ngƣời. Thuốc trừ sâu còn đƣợc chia ra theo khả năng gây độc cho từng giai đoạn sinh trƣởng: thuốc trừ trứng, thuốc trừ sâu non. Thuốc trừ bệnh (Fungicide): thuốc trừ bệnh bao gồm các hợp chất có nguồn gốc hóa học(vô cơ hoặc hữu cơ), sinh học, có tác dụng ngăn ngừa hay diệt trừ các loài vi sinh vật gây hại cho cây trồng và nông sản bằng cách phun lên bề mặt cây, xử lý giống và xử lý đất….
Thuốc trừ bệnh dùng để bảo vệ cây trồng trƣớc khi bị các loài vi sinh vật gây hại tấn công. Thuốc trừ bệnh bao gồm cả thuốc trừ nấm (Fungicide) và trừ vi khuẩn (Bactericides). 5 Thuốc trừ chuột (Rodenticide): là những hợp chất vô cơ, hữu cơ, hoặc có nguồn gốc sinh học có hoạt tính sinh học và phƣơng thức tác động rất khác nhau, đƣợc dùng đêt diệt chuột gây hại trên ruộng, trong nhà và các loài gặm nhấm. chúng tác động đến chuột chủ yếu bằng con đƣờng vị độc và xông hơi.
Thuốc trừ nhện (Acricide): Những chất đƣợc dùng chủ yếu để trừ nhện hại cây trồng và các loài thực vật khác, đặc biệt là nhện đỏ. Hầu hết các thuốc trừ nhện hiện nay đều có tác dụng tiếp xúc. Thuốc trừ tuyến trùng (Nematocide): các chất xông hơi và nội hấp đƣợc dùng để xử lý đát trƣớc tiên trừ tuyến trùng rẽ cây trồng, trong đất, hật giống và cả trong cây. Thuốc trừ cỏ (Herbicide ): các chất đƣợc dùng để trừ các loài thực vật cản trở sự sinh trƣởng cây trồng, các loài thực vật mọc hoang dại, trên đồng rƣợng, quan các công trình kiến trúc, sân bay, đƣờng sắt…và gồm cả các thuốc trừ rong rêu ruộng, kênh mƣơng.
Đây là nhóm thuốc dễ gây hại cho cây trồng nhất. vì vậy khi dùng thuốc trong nhóm này phải đặc biệt thận trọng. Thuốc kích thích tăng trƣởng: các chất đƣợc dùng để kích thích sự sinh trƣởng của cây trồng, kích thích ra hoa, đậu quả giúp tăng năng suất cây trồng, giảm thời gian sinh trƣởng của cây. Phân loại dựa vào con đường xâm nhập (hay tác động của thuốc) đến dịch hại Gồm có các con đƣờng xâm nhập: tiếp xúc, vị độc, xông hơi, nội hấp và thấm sâu.4: Phân loại dựa vào con đƣờng xâm nhập đến dịch hại Loại chất độc Con đƣờng xâm nhập Chất độc tiếp Xâm nhập qua biểu bì của dịch hại.