ĐẶT VẤN ĐỀ Trong tất cả các nền văn hóa của nhân loại từ thời thƣợng cổ đến nay con ngƣời luôn coi trọng tất cả các loại cây cỏ trong rừng bởi đó chính là nguồn thuốc chủ yếu để bảo vệ sức khỏe. cây thuốc có giá trị cực kỳ quan trọng đối với sức khỏe của mỗi con ngƣời, bảo vệ cây thuốc không chỉ bảo vệ cuộc sống của mỗi chúng ta mà còn bảo vệ đƣợc nguồn gen quý hiếm cho thế hệ mai sau. Việt nam là một trong những trung tâm đa dạng sinh học của thế giới với hệ thực vật phong phú và đa dạng, nằm trong khu vực nhiệt đới nóng ẩm mƣa nhiều, là nƣớc có nguồn tài nguyên thực vật giàu có bậc nhất Đông Nam Á. Là nơi tập trung nhiều cây thuốc quý hiếm với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống họ có truyền thống lu đời trong việc sử dụng nguồn tài nguyên thực vật.
Theo thống kê chƣa đầy đủ hiện có khoảng hơn 10.000 loài thực vật có mạch đƣợc ghi nhận cho Việt Nam. ƣớc đoán hệ thực vật bậc cao có khoảng 12 loài. Trong số này nguồn tài nguyên cây làm thuốc chiếm khoảng 30% thuộc hơn 2. tài nguyên rừng không chỉ là lá phổi xanh điều hòa khí hậu, bảo vệ sức khỏe của còn ngƣời mà còn rất nhiều tác dụng phục vụ cho đời sống của con ngƣời, nguồn thực vật đƣợc con ngƣời áp dụng trong công nghiệp chế biến ra để phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.
Chính vì vậy nguồn tài nguyên thực vật nói chung và tài nguyên cây thuốc nói riêng cần phải chăm sóc và ảo vệ một cách sát sao hơn nữa. Đặc biệt là ngƣời dân ở vùng cao, mỗi dân tộc có tập quán, tri thức và kinh nghiệm sử dụng, thói quen khai thác cây cỏ có từ rừng tự nhiên mang về dùng với các mục đích sử dụng khác nhau. Chính vì khai thác nhƣ vậy có thể dẫn đến nguy cơ cạn kiệt nguồn tài nguyên này một cách nhanh chóng, thậm chí một số loài cây có giá trị cao, quý hiếm có thể bị tuyệt chủng. Vì thế cần phải có các hoạt động bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên cây dƣợc liệu do chính ngƣời dân sống gần rừng thực hiện nhằm sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc cho hiện tại và mai sau.
1 Xã Nà Hỳ là một xã biên giới đặc biệt khó khăn, thuộc huyên Nậm Pồ, tỉnh Điện Biên. Xã Nà Hỳ nằm ở phí Nam của huyện Nậm Pồ. Có đƣờng biên giới giáp với nƣớc Cộng Hòa Nhân Dân Lào dài 14km.100ha rừng, với diện tích rừng nhƣ vậy qua tìm hiểu cho thấy rừng tại xã Nà Hỳ rất đa dạng và phong phú cả về tài nguyên thực vật cũng nhƣ tài nguyên cây thuốc. Tuy nhiên thì vẫn chƣa có công trình khoa học nào nghiên cứu hoặc trồng thử nghiệm và bảo tồn cây thuốc tại xã Nà Hỳ, ngƣời dân từ những kiến thức bản địa vào rừng tìm hái cây thuốc để phục vụ cho cá nhân, một số hộ chỉ nuôi trồng một số loại cây thuốc thông dụng tại nhà chứ không nuôi trồng một cách quy mô và khai thác thƣờng xuyên để phục vụ lợi ích kinh tế.
Để nâng cao kiến thức bản địa, sử dụng, bảo tồn và phát triển cây thuốc một cách bền vững tôi đã tiến hành làm khóa luận tốt nghiệp với để tài:” Nghiên cứu thực trạng gây trồng và khai thác sử dụng cây thuốc của người dân tại xã Nà Hỳ - huyện Nậm Pồ - tỉnh Điện Biên”. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu cây thuốc của một số nƣớc trên thế giới. Từ khi xuất hiện, ra đời con ngƣời đã iết dựa vào rừng để sống, không chỉ lấy ra từ rừng lƣơng thực phẩm phục vụ cho cuộc sống hàng ngày mà còn biết lấy cây rừng làm thuốc chữa bệnh. Trải qua nhiều thế kỷ, các cộng đồng ngƣời trên khắp thế giới đã phát triển những phƣơng thuốc cổ truyền của họ, làm cho cây rừng trở nên ý nghĩa.
Không chỉ riêng nƣớc ta mà còn nhiều nƣớc trên thế giới nhƣ ( Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan…). Theo WHO thì mức độ sử sụng cây thuốc ngày càng cao, ở các quốc gia đang phát triển có tới 80% dân số sử dụng thuốc dân tộc. Trung Quốc là nƣớc đông dân nhất thế giới và có nên y học dân tộc phát triển, nên trong số cây thuốc đã iết hiện nay có tới 80% số loài đƣợc sử dụng theo kinh nghiệm cổ truyền của các dân tộc. Hàng năm nƣớc này tiêu thụ thới 0,7-1,0 triệu tấn dƣợc liệu sản phẩm thuốc y học dân tộc đạt giá trị hơn 1,4 tỷ USD vào năm 1986.
Tổng giá trị về thuốc có giá trị trên thị trƣờng Âu - Mỹ và Nhật Bản vào năm 1985 là hơn 43 tỷ USD. Tại các nƣớc có nền công nghiệp phát triển từ năm 1976- 1980 đã tăn từ 335 triệu USD lên 551 triệu USD. Nhật Bản, năm 19769 nhập 21.000 tấn , đến năm 1980 tăng lên 22.640 tấn dƣợc liệu tƣơng đƣơng 50 triệu USD, điều này chúng tỏ đối với các nƣớc công nghiệp phát triển thì việc sử dụng cây thuốc cho nền y học cổ truyền cũng phát triển mạnh. Đất nƣớc hoa hồng Bungari xinh đẹp đã sử dụng cây ƣu thế của mình nhƣ một thần udƣợc vì nó là vị thuốc chữa trị đƣợc nhiều bệnh, ngƣời ta dùng cả hoa, lá, rễ, để làm thuốc tan huyết ứ và phù thũng.
Ngày nay khoa học đã xác đinh trong cánh hoa hồng có chứa một lƣợng tanin, glucosit, tinh dầu đáng kể. Theo hai ông Y Cao và R. Trƣơng Trọng Cảnh là vị thánh trong đông y vào thời Đông hán cách đây 3 1700 năm, ông đã nghiên cứu và viết "Thƣơng hàn tập bệnh luận" chỉ các bệnh dịch và bệnh về thời tiết nói chung và đề ra những cách chữa trị bằng thảo dƣợc. Từ những kinh nghiệm dân gian đó ngƣời ta đã nghiên cứu thành phần hóa học và tìm ra các hợp chất hóa học từ cây cỏ để chữa trị bệnh, ở đời Hán (năm 168 TCN) trong cuốn sách "Thủ hậu bị cấp phƣơng" đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ cây cỏ.
Vào thế kỷ XVI Lý thời Trần đã thống kê đƣợc 12.000 vị thuốc trong tập "Bản thảo cương mục" xuất bản năm 1595. Cách đây 3000 - 5000 năm, nhân dân ấn Độ dùng lá cây Ba chẽ (Desmodium triangulare) sao vàng sắc đặc để trị kiết lị và tiêu chảy [19]. Trong chƣơng trình điều tra cơ ản nguồn tài nguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam á, Perry đã nghiên cứu và công bố hơn 1000 công trình khoa học về thực vật và dƣợc liệu đƣợc các nhà khoa học kiểm chứng (trong đó có 146 loài có tính kháng khuẩn) và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông á và Đông Nam á "Medicinal Plants of East and Southeast Asia, 1985". Cùng với phƣơng thức chữa bệnh theo Y học cổ truyền, các nhà khoa học trên thế giới còn đi sâu nghiên cứu cơ chế của các hợp chất hóa học trong cây cỏ có tác dụng chữa bệnh.
Tokin, Klein, Penneys đã công nhận rằng hầu hết cây cỏ đều có tính kháng khuẩn. Tính kháng khuẩn này là do có các hợp chất nhƣ Phenolic, antoxyan, các dẫn xuất quinin, alkaloid, heterozit, saponin. Theo Anon (1982) trong vòng gần 200 năm trở lại đây có ít nhất 121 hợp chất hóa học tự nhiên con ngƣời đã iết đƣợc cấu trúc có trong cây cỏ có thể dùng làm thuốc. Ví dụ nhƣ cây Lô Hội (Aloe barbadensis) theo otthall (1950) đã phân lập đƣợc chất Gucosit barbaloin có tác dụng với vi khuẩn Lao ở Ngƣời và có tác dụng với Bacilus subtilic.
Lucas và Lewis (1944) đã chiết từ cây Kim ngân (Lonicera tatarica) một hoạt chất có tác dụng với các loại vi khuẩn gây bệnh tả lị mụn nhọt. illiver (1946) đã chiết đƣợc Berberin từ cây Hoàng Liên (Coptis tecta) có tác dụng chữa bệnh đƣờng ruột ở ngƣời và kiềm chế một số giống vi khuẩn làm hại cây cối. Schlederre (1962) cho rằng chất đó có thể chữa khỏi bệnh Bontond orient, Lebedev nhận xét rằng Berberin có tác dụng đối với 4 tụ cầu, liên cầu, trực khuẩn, ho gà, trực khuẩn lị, thƣơng hàn và trực khuẩn lao. Trƣớc nhu cầu sủ dụng ngày càng tăng các loại thuốc có nguồn gốc thực vật đã thúc đẩy khai thác buôn bán cây thuốc và gây sức ép cho sự sinh tồn của các loài cây thuốc trên thế giới.
Nhiều loài cây thuốc quý hiếm bị khai thác bừa ãi và đang đứng trƣớc nguy cơ ị tuyệt chủng hoặc đã ị tuyệt chủng. Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy các quần thể của nhiều loài thực vật làm thuốc đang suy giảm trong tự nhiên. Raven (1987) và Ole Harmann(1988) trong vòng hơn 100 năm trở lại đây có khoảng 1.000 loài đã ị tuyệt chủng, có tới 60.000 loài gặp rủi ro hay sự tồn tại của chúng bị đe dọa vào thế kỷ tới. Trong số loài thực vật đã mất đi hoặc đang ị đe dọa gây gắt, có một tỷ lên không nhỏ là thực vật làm thuốc trong đó có khoảng 120 loài ở Ấn Độ, 77 loài ở Trung Quốc, 75 loài ở Macoro, 61 loài ở Thái Lan,… Trên phạm vi toàn thế giới, các cộng đồng đã có nhiều nỗ lực và hành động chung nhằm bảo tồn đa dạng sinh học nói chung cũng nhƣ cây thuốc nói riêng.
Để phục vụ cho mục đích chăm sóc ảo vệ sức khỏe cho con ngƣời, cho sự phát triển của xã hội và để chống lại các bệnh nan y, thì sự kết hợp giữa Đông - Tây y, giữa y học hiện đại với y học cổ truyền của các dân tộc là điều cần thiết. Chính từ những Kinh nghiệm của y học cổ truyền đã giúp cho nhân loại khám phá ra những loài thuốc có ích trong tƣơng lai. Vì vậy, việc khai thác kết hợp với bảo tồn các loài cây thuốc là điều hết sức quan trọng. Các nƣớc trên thế giới đang hƣớng về thực hiện chƣơng trình quốc gia kết hợp sử dụng, bảo tồn và phát triển bền vững cây thuốc.2 Tình hình nghiên cứu cây thuốc tại Việt Nam.
Nằm trong vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm. Việt Nam có nguồn tài nguyên thực vật phong phú đa dạng. Trong số các loài thực vật hiện có ở Việt Nam ( khoảng 12.000 loài) có rất nhiều loài đã và đang có triển vọng đƣợc sử dụng làm thuốc… nếu nhƣ tính đến năm 1952 nhà thực vật Pháp công bố trên toàn Đông dƣơng có 1.350 loài loài cây thuốc thuộc 160 họ thực vật khác nhau thì năm 1996, Võ Văn 5 Chi đã công ố hệ thực vật làm thuốc có 3. Đến năm 2005 theo số liệu của Viện Dƣợc liệu, hệ thục vật Việt Nam có 3.