CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN 1.1 Hệ enzyme tiêu hóa Trong số các enzym tiêu hóa từ nội tạng cá thì ngoại trừ enzym pepsin từ dạ dày cá đã được các tác giả trên thế giới nghiên cứu thu nhận, tinh sạch, xác định tính chất và đưa vào ứng dụng, các hiểu biết cho đến nay về hệ enzyme tiêu hóa từ tụy tạng cá van còn khá hạn chế [1]. Trong khi đó, nguồn nguyên liệu nội tạng cá tra cần nghiên cứu thu nhận enzyme không bao gồm dạ dày cá nên trong phạm vi dé tài này chúng tôi sẽ không dé cập đến pepsin. Các enzym tiêu hóa khác chủ yếu được sản xuất ở tuyến tụy. Ở động vật bậc cao các enzyme tiêu hóa của tuyến tụy (pancreatin) được tiết ra từ các tế bào ngoại tiết của tuyến tụy, gdm chủ yếu là lipase, protease và amylase.
Đến nay, chỉ có enzyme tuyến tụy của lợn, bò được sản xuất dưới dạng chế phẩm dé đưa vào ứng dụng. Các dạng chế phẩm hỗn hợp đa enzyme rất phố biến, ngoài ra cũng có các chế phẩm mặc dù gồm vài enzyme nhưng hoạt động ưu thế trên một loại cơ chất. Điển hình như: pancreatic protease là chế phẩm hỗn hợp giữa trypsin và chymotrypsin. Pancreatic lipase là chế phẩm hỗn hop có chứa cả esterase, protease, amylase và các zymogen [1].
Ngoài chế phẩm hỗn hợp, một số enzyme tuyến tụy cũng đã được thu nhận dưới dạng tinh sạch như trypsin, chymotrypsin, lipase tụy.1 Protease Protease tuyến tụy bao gdm chủ yếu là trypsin va chymotrypsin, chúng thuộc nhóm serine-protease, có nhóm —OH của gốc serine trong trung tâm hoạt động, có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hoạt động xúc tác của enzyme. Các protease tuyến tụy thường hoạt động mạnh ở vùng kiềm tinh và thé hiện tính đặc hiệu cơ chất tương đối rộng [2].4] Nghiên cứu trypsin của lợn cho thay đây là một chuỗi polypeptide có 249 acid amin, trọng lượng phân tử 22. Trypsin thủy phân liên kết peptide giữa gốc carboxyl của lysine và arginine với nhóm amine của các acid amin khác. pH tối ưu cho hoạt động của trypsin là 8 và pH thích hợp là 7,8 - 9,5.
Nhiệt độ thích hợp cho hoạt động của trypsin trong khoảng 30 - 40°C, ở nhiệt độ này và pH 8.5 - 9 trypsin có khả năng thủy phân mạnh các cơ chất như casein, hemoglobin hay gelatin. lon Ca” được xem như là chất bảo vệ cho enzyme khỏi bi bién tinh va bao vệ chống lại sự tự phân protein. Ngược lại, Cu”, Ag”*, Hg”” có tác dụng ức chế enzyme. Ngoài ra trypsin còn bị ức chế bởi các chất kháng-trypsin tự nhiên có trong tuyến tụy, đậu tương, đậu ván, các cây họ đậu, mướp đăng.
Trung tâm hoạt động của trypsin có thứ tự các acid amin -Gly-Asp-Ser-Gly-Pro- [2]. © SGTI © cryafish trypsin © SGTI-binding region Hình 1.1 Cấu trúc không gian của trypsin crayfish khi liên kết với chat kháng trypsin Schistocerca gregaria (SŒTT) [3] Chymotrypsin [E.1] Chymotrypsin là một protease hoạt động trong điều kiện môi trường có pH kiểm nên được xếp vào nhóm protease kiềm tính tương tự như trypsin. Chymotrypsin hoạt động trong điều kiện pH 7 - 9 và pH tối ưu là 8 - 9, điểm đăng điện pI = 5.4; pH 5 không thuận tiện cho hoạt động cua chymotrypsin nhưng ở pH này chymotrypsin lại bền vững hơn trong môi trường pH 8. Chymotrypsin là một chuỗi polypeptide có 245 acid amin, trọng lượng phân tử 22.
Chymotrypsin hoạt động như một endopeptidase phân cat mach polypeptide thành các peptide ngắn và tác dụng trên những liên kết mà trypsin không phân cắt. Những liên kết này được tạo thành bởi nhóm carboxyl của acid amin có nhân thơm như tyrosine, tryptophan, phenylalanine với nhóm amine của acid amin khác [2]. Sự khác nhau giữa trung tâm liên kết của trypsin va chymotrypsin Trypsin va chymotrypsin thuộc nhóm serine protease, trung tâm hoạt động cua chúng giống nhau, trung tâm liên kết tương tự nhau ngoại trừ khác nhau ở một acid amin. Ở trypsin có một gốc lysine ở đáy túi liên kết, ở chymotrypsin có gốc tyrosine ở đáy túi liên kết thay vào vị trí của lysine.
Do sự khác nhau này, co chất protein hoặc chuỗi peptide có các gốc acid amin là arginyl và lysyl mới có thé kết hợp với trung tâm hoạt động của trypsin để thủy phân liên kết peptide. Ở chymotrypsin, cơ chất protein hoặc chuỗi peptide có các gốc acid amin là tyrosyl, phenylalanyl và tryptophanyl mới có thé kết hợp với trung tâm hoạt động của chymotrypsin [2]. Sự tương đồng về cau trúc của trypsin va lipase tuyến tụy Trung tâm hoạt động của trypsin là chuỗi pentapeptide Gly-Asp-Ser-Gly-Gly, tương đồng với trung tâm hoạt động của lipase tụy với chuỗi pentapeptide Gly-X- Ser-X-Gly. Mặt khác, lipase tụy sẽ bị mất hoạt độ khi có mặt các chất kìm hãm serine-protease như diisopropylphosphofluoridate và diethyl-p-nitrophenyl phosphate.
Từ minh chứng trên, lipase tụy được xem như thuộc nhóm serine- protease. Các phân tích cau trúc gan đây cho thay ở lipase tụy hiện diện cấu trúc Ser.Asp, cấu trúc này có mặt ở tất cả các serine protease mặc dù các thành phân acid amin còn lại khác nhau. Cấu trúc tương đồng ở trung tâm hoạt động của serine protease và lipase tụy như sau [4]. SERINE PROTEASE Trypsin chuot QGDSGGPVVC Chymotrypsin chuột MGDSGGPLVC LIPASE Lipase tuy lon VHVIGHSLGSHAA Lipase tụy chó VQLIGHSLGAHVA Lipase tuy ngua VHHIGHSLGSHAA Lipase tụy người VHVIGHSLGAHAA 1.3] Cac enzyme lipase hay các acylglycerol acylhydrolase (E.3) được định nghĩa như là các enzyme thuỷ phân các liên kết ester giữa các acid béo mạch dài và ølycerol trong dâu béo tại bề mặt phân pha dâu-nước.
Các enzyme lipase thủy phân triacylglycerol (TAG) không tan trong nước thành các diacylglycerol, các monoacylglycerol phân cực hơn cũng như các acid béo va glycerol hỗ trợ cho quá trình hấp thu và chuyển hoá qua màng. Trừ các trường hợp ngoại lệ, pH hoạt động tối thích cho hâu hết các lipase năm trong khoảng 7 — 9, các lipase hoạt động trong khoảng nhiệt độ rat rộng, từ 20 — 65°C, nhưng thông dụng nhất là từ 30 — 45°C [5]. Nhiều chuỗi acid amin của lipase tụy đã được tìm ra như: lipase tụy của người, bò (Bos tauru), chuột (Rattus norvegi-cus), chó (Canis familiaris), lợn (Cavia orcellus), thỏ (Oryctolagus cuniculus), ngựa (Equus caballus). Câu trúc tinh thé của một số lipase cũng đã được nghiên cứu như: lipase tụy của người, bò (Bos Taurus), lợn (Sus scrofa), chuột (Rattus norvegicus) |4].
Tính chat của lipase tụy Cầu trúc Trong những lipase đã biết, không có trình tự acid amin đặc trưng nào cho mọi lipase. Trái lại, trình tự của chúng rất khác biệt. Điểm giéng nhau của tat cả các lipase là một đoạn nhỏ gồm 5 acid amin Gly-X-Ser-X-Gly (trong rất hiếm trường hop, glycine bị thay thé băng những acid amin khác). Trình tự này nam gan trung tâm hoạt động va sau này, các nhà nghiên cứu đã sử dụng chuỗi pentapeptide này để định danh những protein là lipase [6].
Mặc dù có sự khác biệt lớn trong trình tự acid amin, tat cả lipase đều có một kiểu cau trúc tương tự nhau gọi là gap nếp B có liên quan đến cơ chế xúc tác của nó. Câu trúc này lân đâu tiên được giới thiệu khi so sánh cau trúc 3 chiều của enzyme có trình tự acid amin khác nhau và so sánh khi chúng găn với co chat. Cau trúc gấp nếp này có phân trung tâm là 8 chuỗi xếp song song cùng chiêu, chỉ có chuỗi j2 ngược chiêu. Các chuỗi B3 đến B8 nói lại với nhau băng các đoạn xoăn a.
Sự khác biệt giữa các cau trúc này là số chuỗi trên gap nếp B, sự hiện diện của nhóm phụ và cau trúc của tiêu phân sẽ liên kêt với cơ chat [7 |. Cau trúc lập thé của lipase được làm sáng tỏ vào năm 1990, các nghiên cứu cho thay vùng hoạt động của enzyme lipase bị che chắn khỏi dung môi bang một cau trúc di động [8]. và cộng sự, cau trúc di động cần di chuyền trên bể mặt liên pha cơ chất và nước để tao ra cau trúc hoạt động của enzyme với trung tâm xúc tác có thé tiếp xúc với cơ chất. Cấu trúc tinh thé của lipase hay cấu trúc dạng phức đã tạo điều kiện cho việc làm sáng tỏ sự thay đổi cấu trúc của lipase.
Lipase sẽ chuyển từ trạng thái bất hoạt sang trạng thái hoạt động khi cau trúc di động chuyên từ đóng sang mở [9]. Cơ chế đóng mở nap có thé khác nhau giữa các lipase nhưng chúng đều tạo điều kiện cho trung tâm hoạt động của lipase thông suốt dé có thé liên kết với lipid [10].2: Cau trúc không gian lipase tụy của cá hồi (Salmo Salar) [11] Cấu trúc di động Lipase sẽ có sự thay đổi hình dạng để 6n định hoạt độ khi tương tác với bề mặt liên pha nước va cơ chất. Ở trang thái đóng, cái nắp sẽ che phủ trung tâm hoạt động của enzyme, làm cho phân tử cơ chất không gan kết được vào đó. Khi chuyển sang dạng mở, trung tâm này trở thành con đường hầm để cơ chất đi vào và tham gia phản ứng.
Trong những năm gan đây, chức năng của cấu trúc nap đã được làm sáng tỏ nhiều hon. Nó không chi đơn thuần là cái cổng đi vào trung tâm hoạt động. Nap có cau trúc của một phân tử vừa có tính ky nước vừa có tính ái nước: khi đóng nắp, phần mặt ưa nước hướng ra ngoài dung môi và mặt ky nước hướng vào lõi protein; khi enzyme chuyền sang trạng thái mở, mặt ky nước sẽ lộ ra ngoai làm tăng diện tích bề mặt ky nước, tăng khả năng liên kết với co chất. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng cau trúc phan nắp còn ảnh hưởng đến hoạt độ và tính chọn lọc của lipase.
Vi dụ, cùng trong một nhóm lipase, lipase tụy người và lipase tụy heo, nhưng 2 lipase lại cho thay tính đặc hiệu khác nhau. Lipase tụy người chi có hoạt độ cao với triglyceride, trong khi lipase tụy heo còn thể hiện hoạt độ của phospholipase và galactolipase. Điểm khác nhau chính trong cau trúc của 2 enzyme này là kích thước rất nhỏ của nắp trên lipase tụy heo (5 acid amin). Đột biến gene gây ra những biến đổi trên cái nắp đã cho thấy tam ảnh hưởng của cái nắp đến tính chon lọc đối với triglyceride, phospholipid và galactolipid.
Đột biến trên nắp của lipase này sẽ làm thay đổi chiều dài mạch của cơ chất mà nó tương thích [12]. Phức lipase Lipase tụy có cau trúc phức với nhóm phụ là protein hay lipid. Lipase tụy chứa 2 phan gắn với nhau bang một khớp linh động, đầu N của phan protein xúc tác có kích thước lớn và đầu C của gấp nếp B có kích thước nhỏ hơn. Nó liên quan đến hoạt độ của lipase trong những điều kiện môi trường sinh lý trong cơ thể.
Trong ống tiêu hóa, triglyceride được hòa với phospholipid, acid béo, protein và muối mật có tác dụng như chất nhũ hóa.