PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Đề tài nghiên cứu được lựa chọn bởi những lý do sau: Thứ nhất, Sự cẩn thiết - tầm quan trọng của việc làm, lao động có việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động. Con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển nền kinh tế toàn cầu. Vì vậy, số liệu lao động có việc làm được cung cấp đầy đủ, kịp thời và chính xác rất cần thiết cho công tác kế hoạch hoá phát triển kinh tế - xã hội.
Thực tế cho thấy các nhà quản lý, nhà hoạch định chính sách, nhà nghiên cứu và người dùng tin không chỉ cần những số liệu lao động có việc làm trong quá khứ và hiện tại mà còn cần cả nguồn số liệu dự báo lao động có việc làm làm cơ sở cho công tác xây dựng chiến lược, kế hoạch phát triển đất nước, công tác quản lý và điều hành nguồn lao động tại địa phương và doanh nghiệp nhằm giải quyết kịp thời cho việc chuyển dịch cơ cấu lao động và tạo điều kiện việc làm cho lao động nhằm phát triển kinh tế bền vững. Việc làm là một trong những nhu cầu cơ bản của con người để đảm bảo cuộc sống và sự phát triển toàn diện. Quyền lao động và đảm bảo việc làm của người lao động đã được khẳng định trong Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và đã được cụ thể hoá trong Bộ luật Lao động đầu tiên ở nước ta. Việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động là một trong những ưu tiên hàng đầu trong các chính sách phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.
Tuy nhiên, để thực hiện được điều đó, cần hoàn thiện chính sách, pháp luật về việc làm. Mặt khác, để có cơ sở cho việc xây dựng và thực hiện chính sách việc làm cần có những thông tin chi tiết về tình hình lao động có việc làm ở từng khu vực kinh tế, ngành kinh tế và vùng kinh tế. Những thông tin này chỉ có được qua các cuộc điều tra thống kê về lao động và việc làm cũng như các báo cáo phân tích và dự báo kết quả thống kê về việc làm. Hiện nay trong xu tế toàn cầu hóa, hiện đại hóa, việc mở rộng quan hệ với các quốc gia cũng như sự gia nhập các tổ chức quốc tế đòi hỏi hệ thống thông tin thống kê về lao động có việc làm phải có những 2 bước phát triển tương đồng, đó cũng là vấn đề mà tổ chức lao động quốc tế (ILO) quan tâm.
Việc làm có vai trò quan trọng trong đời sống xã hội, nó không thể thiếu đối với từng cá nhân và toàn bộ nền kinh tế, là vấn đề cốt lõi và xuyên suốt trong các hoạt động kinh tế, có mối quan hệ mật thiết với kinh tế và xã hội, việc làm chi phối toàn bộ mọi hoạt động của cá nhân và xã hội. Thứ hai, các vấn đề về việc làm, lao động có việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động. Đối với từng cá nhân thì có việc làm đi đôi với có thu nhập để nuôi sống bản thân mình, vì vậy nó ảnh hưởng trực tiếp và chi phối toàn bộ đời sống của cá nhân. Việc làm ngày nay gắn chặt với trình độ học vấn, trình độ tay nghề của từng cá nhân, thực tế cho thấy những người không có việc làm thường tập trung vào những vùng nhất định (vùng đông dân cư khó khăn về điều kiện tự nhiên, cơ sở hạ tầng,.) vào những nhóm người nhất định (lao động không có trình độ tay nghề, trình độ văn hoá thấp,.
Việc không có việc làm trong dài hạn còn dẫn tới mất cơ hội trau dồi, nắm bắt và nâng cao trình độ kĩ năng nghề nghiệp làm hao mòn và mất đi kiến thức, trình độ vốn có. Đối với nền kinh tế của một Quốc gia thì lao động là một trong những nguồn lực quan trọng, là đầu vào không thể thay thế đối với một số ngành, vì vậy lao động là nhân tố tạo nên tăng trưởng kinh tế và thu nhập quốc dân, nền kinh tế luôn phải đảm bảo tạo cầu và việc làm cho từng cá nhân sẽ giúp cho việc duy trì mối quan hệ hài hoà giữa việc làm và kinh tế, tức là luôn bảo đảm cho nền kinh tế có xu hướng phát triển bền vững, ngược lại nó cũng duy trì lợi ích và phát huy tiềm năng của người lao động. Đối với xã hội thì mỗi một cá nhân, gia đình là một yếu tố cấu thành nên xã hội, vì vậy lao động có việc làm cũng tác động trực tiếp đến xã hội, một mặt nó tác động tích cực, mặt khác nó tác động tiêu cực. Khi mọi cá nhân trong xã hội có việc làm thì xã hội đó được duy trì và phát triển do không có mâu thuẫn nội sinh trong xã hội, không tạo ra các tiêu cực, tệ nạn trong xã hội, con người được dần hoàn thiện về nhân cách và trí tuệ.
Ngược lại khi nền kinh tế không đảm bảo đáp ứng về việc làm 3 cho người lao động có thể dẫn đến nhiều tiêu cực trong đời sống xã hội và ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nhân cách con người. Con người có nhu cầu lao động ngoài việc đảm bảo nhu cầu đời sống còn đảm bảo các nhu cầu về phát triển và tự hoàn thiện, vì vậy trong nhiều trường hợp khi không có việc làm sẽ ảnh hưởng đến lòng tự tin của con người, sự xa lánh cộng đồng và là nguyên nhân của các tệ nạn xã hội. Ngoài ra khi không có vệc làm trong xã hội sẽ tạo ra các khoảng cách giàu nghèo là nguyên nhân nảy sinh ra các mâu thuẫn và nó ảnh hưởng đến tình hình chính trị. Thứ ba, khoảng trống trong các nghiên cứu về lao động có việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động.
Lao động có việc làm là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách trong nước. Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về lý luận và thực tiễn về lao động có việc làm ở Việt Nam như sau: Bùi Ngọc Mai (2014), “Nghiên cứu thống kê lao động có việc làm tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2005-2014” đã truyền tải được nguồn thông tin phong phú về lao động có việc làm, phân bố lao động cũng như tác động của năng suất lao động xã hội đến tăng trưởng kinh tế của tỉnh Bắc Ninh. Trong phân tích này tác giả đã phân tích quy mô biến động lao động có việc làm theo giới tính, nhóm tuổi, ngành kinh tế, trình độ học vấn, vị thế việc làm, chất lượng lao động có việc làm, tình trạng thiếu việc làm trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên, mức độ nghiên cứu mới dừng lại ở phạm vi hẹp trong địa bàn tỉnh Bắc Ninh, đồng thời cũng chưa nghiên cứu sâu về các vấn đề giải quyết việc làm cho người lao động của tỉnh Bắc Ninh cũng như dự báo lao động có việc làm trong tương lai.
Tổng kết những nghiên cứu mà tác giả đã được tham khảo cho thấy hầu hết các nghiên cứu đều tập trung khái quát các vấn đề lý luận về lao động có việc làm. Phân tích thực trạng lao động có việc làm từ đó đề xuất giải pháp thúc đẩy tăng cơ hội việc làm cho người lao động. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu đều giới hạn trong một không gian nhất định tại một khu vực hay một địa phương mà chưa bao quát hết thực trạng lao động có việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động của cả nước. Xuất phát từ khoảng trống nghiên cứu nêu trên tác giả mong muốn 4 thực hiện đề tài này để góp phần làm phong phú nội dung nghiên cứu về lao động có việc làm và giải quyết việc làm cho người lao động.
Thứ tư, số liệu thống kê về lao động có việc làm Hiện nay, thống kê về việc làm và lao động có việc làm được TCTK thực hiện và công bố. Niên giám thống kê hàng năm của TCTK tập hợp số liệu thống kê về kinh tế - xã hội của cả nước trong đó có số liệu thống kê về lao động có việc làm. Ngoài ra Báo cáo điều tra lao động việc làm được TCTK công bố hàng quý cũng phản ánh chi tiết các chỉ tiêu phản ánh việc làm, lao động có việc làm và số lượng lao động được tạo việc làm mới. Do vậy, kết quả nghiên cứu thống kê lao động có việc làm sẽ là căn cứ quan trọng để các cấp ban ngành đưa ra những phê chuẩn và thực hiện các công ước có liên quan, cung cấp thông tin trong các lĩnh vực một cách chính xác, đầy đủ, hiệu quả và đồng thời là căn cứ quan trọng để các nhà hoạch định chính sách đưa ra các quyết định đúng đắn phù hợp với tình hình kinh tế trong thời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước như hiện nay.
Với các lý do trên tác giả xin mạnh dạn lựa chọn vấn đề: “Nghiên cứu thống kê lao động có việc làm ở Việt Nam giai đoạn 1996-2016” làm Luận văn thạc sĩ của mình. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là Nghiên cứu thống kê lao động có việc làm ở Việt Nam giai đoạn 1996 – 2016. Mục tiêu nghiên cứu tổng quát được chi tiết hóa bằng các mục tiêu cụ thể như sau: (1) Hệ thống những vấn đề lý luận về Lao động có việc làm, trong đó chỉ ra được nhóm chỉ tiêu về Lao động có việc làm; các nhân tố ảnh hưởng đến lao động có việc làm và các phương pháp thống kê phân tích cơ cấu và tỷ lệ lao động có việc làm nhằm khẳng định vai trò quan trọng của nghiên cứu thống kê lao động có việc làm. 5 (2) Lựa chọn chỉ tiêu thống kê phản ánh lao động có việc làm ở Việt Nam giai đoạn 1996 - 2016.