chương 1, 2 và 3, xây dựng một thiết kế theo các thông số đã xác định và thiết lập quy trình vận hành. Các co sở thiết kế cũng được trình bày trong phan nay. Chương 5: Thử nghiệm thiết bị. Thiết kế sau khi hình thành sẽ được sử dụng bước dau thử nghiệm về hiệu quả của thiết kế.
Các đánh giá về kết quả lâm sàng dựa trên tong kết bệnh án tại một số bệnh viện có khoa điều trị Phục hồi chức năng và có nguồn bệnh nhân có các tôn thương lâu lành. Chương 6: Kết luận và hướng phát triển. Nêu nội dung kết luận của quá trình thực hiện đề tài, những đánh giá sơ bộ và định hướng cho phát triển đề tài trong tương lai. CHUONG 1: TONG QUAN LASER là viết tat của cum từ tiếng Anh: Light Amplification by Stimulated Emission of Radiation, nghia la “Su khuyéch đại anh sáng nhờ bức xạ cưỡng bức”.
Lich sử laser khởi đầu từ Albert Einstein, người đưa ra lý thuyết phát xạ cưỡng bức năm 1916. Năm 1955, Basov và Prokhorov (Nga) cùng Townes (Mỹ) chỉ ra rằng có thể tạo phát xạ cưỡng bức ở vùng quang học, tức vùng phô sóng điện từ có năng lượng cao hơn vùng vi sóng rất nhiều. Công trình này đã tạo ra cuộc chạy đua trong việc phát triển các thiết bị được gọi là maser quang học. Năm 1960, Theodore Maiman (Mỹ) đã chế tạo thành công một thiết bị như thế dùng hồng ngọc tổng hợp làm môi trường phát xạ.
Nhiều thiết bị khác cũng được xuất hiện ngay sau đó. Tuy nhiên, đến năm 1965 thuật ngữ LASER mới được dùng pho biến.[6] Mặc dù được xem là tương đối mới, nhưng laser có ứng dụng rộng rãi trong công nghiệp, quân sự, khoa học, y học và trong đời sống hăng ngày. Cho đến nay, các ứng dụng của laser vẫn đang được phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là trong y học. Trong khía cạnh này, ta xét tới ứng dụng của laser công suất thấp như một tác nhân vật lý trong điều trị thúc đây quá trình làm lành vết thương, gia tốc quá trình phục hồi các tốn thương hở trên da.
Ở ngoài nước, các nghiên cứu ứng dụng laser công suất thấp trong điều trị nhanh lành vết thương đã dược tiến hành khá lâu và đã cho ra đời nhiều thiết bị ứng dụng trong thực tế lâm sàng. Các thiết bị này du nhập vào Việt nam thông qua các công ty trang thiết bị y tế và một số ít được sử dụng ở các bệnh viện như một thiét bị thuộc nhóm thiết bị vật ly trị liệu tại các khoa vật lý trị liệu — phục hồi chức năng. Các thiết bị này có công nghệ cao, mẫu mã đẹp và tiện dụng nhưng giá thành có thể lên tới hàng trăm triệu đồng. Nguồn gốc xuất xứ của chúng đa số từ Châu Âu, một số ít từ Trung Quốc và Hàn Quốc.
Công suất laser từ vài chục mW đến hàng trăm mW, bước sóng thường nằm trong dải bước sóng khả kiên.1: Các bước sóng khả kiến Tren 75000 Hong ngoai gan (khong nhin thay) Hình 1.1: Thiết bị laser bản dan công suất thấp của Chattanooga, Hoa kỳ hiện dang có mat trên thị trường trong nước ván dang được su dụng trong diéu trị tại mot sô it các bệnh viện khu vực phía Bac Ở trong nước, từ những năm 1989, nhiều don vị, tổ chức, trung tâm nghiên cứu đã bắt tay vào nghiên cứu ứng dụng, chế tạo laser y tế. Điển hình có thể kế đến Trung tâm Công nghệ laser (Bộ KHCN), Phòng thí nghiệm laser (Đại học bách khoa TpHCM), Trung tâm Vật lý Y Sinh học (Viện Kỹ thuật Quân sự II — Bộ Quốc phòng), Bệnh viện Bạch Mai (Bộ Y tế), Học viện Quân y (Bộ Quốc phòng) và nhiều bệnh viện khác với các nghiên cứu lâm sàng và ứng dụng trong điều trị. ứng dụng, chế tạo thiết bị này đa phần tập trung vào khía cạnh ứng dụng laser công suất thấp trong điều trị Vật lý trị liệu, điều tri chan thương, giảm dau, điều trị một số bệnh hệ thống như tiểu đường, tim mạch, huyết áp. Nhưng các nghiên cứu ứng dụng laser công suất thấp trong điều trị ton thương mô mềm, điều trị nhanh lành vết thương vẫn chưa nhiều và chưa có thiết bi chuyên dụng trong điều trị nhanh lành vết thương.
Năm 2007, Bệnh viện 175 — Bộ Quốc phòng đã tiễn hành nghiên cứu ứng dụng laser He-Ne (Model HN8-4, Trung Quốc sản xuất) có bước sóng 632,8nm với hai đầu chiếu (mỗi đầu chiếu 8mW) trong điều trị vết thương phần mềm dat kết quả tốt với 70% bệnh nhân được điều tri.[5] Năm 1999, Bệnh viện phong Bến San tiến hành nghiên cứu ứng dụng laser He-Ne công suất 25mW (Model HNZSQ-2, Trung quốc chế tạo) điều trị cho 119 bệnh nhân có vết loét lỗ đáo do di chứng bệnh phong. Kết qua 82 bệnh nhân đã lành han (68,9%), trong 5 đó có 25 bệnh nhân thuộc nhóm vết thương nhỏ, 45 thuộc nhóm vết thương vừa, và 12 thuộc nhóm vết thương lớn. 3: Laser He-Ne model HNZSQ - 2 do Trung Quốc chế tạo, công suất 25mW, được su dụng tại bệnh viện Bến sắn dé diéu trị vết loét do di chứng bệnh phong. Bệnh viện Phục hồi chức năng thành phố Hồ Chi Minh (2007) ứng dụng laser bán dẫn hồng ngoại chiếu ngoài công suất 57mW, bước sóng 780nm trong điều trị vết loét do tì đè và loạn dưỡng cho 89 bệnh nhân đạt kết quả thành công là 72%.4: Laser bán dẫn hông ngoại chiếu ngoài Multilaser, bước sóng 780nm, công suất 57mW được su dụng tại Bệnh viện PHCN TpHCM trong diéu trị vết loét do tì đè Năm 2014, Trung tâm Nuôi trồng Dược liệu thuộc Quân khu 9 đang tiễn hành dé tài cap Bộ Quốc phòng: nghiên cứu ứng dung laser bán dẫn hồng ngoại chiếu ngoai trong điều trị vết thương hoại tử sau khử độc vết răn căn đang thu thập kết quả và được đánh giá sơ bộ là khả quan.6: Các vết loét, hoại tử vết thương do ran độc can tai Tirung tam nuôi trong Dược liệu Quan khu 9 Bệnh viện 7A, Quân khu 7 hiện nay cũng đang xây dựng đề tài cấp Sở KHCN TpHCM: Nghiên cứu ứng dụng laser bán dẫn công suất thấp trong điều trị nhanh lành vết thương hậu phẫu.
Dé tài đã qua vòng sơ tuyển và đang chuẩn bị bảo vệ.7: Laser bán dẫn hông ngoại chiéu ngoài dang được nghiên cứu dp dung diéu tri tại Trung tâm Nuôi trong Được liệu OKY và bệnh viện 7A, OK7 Các thông tin khảo sát trên cho thấy, việc ứng dụng laser công suất thấp trong điều trị vết thương hở đã và đang được các cơ sở y tế, bệnh viện chuyên khoa quan tâm và tập trung đầu tư nghiên cứu ứng dụng do khả năng mang lại những hiệu quả cao trong điều tri. Mặt khác, đa số các nghiên cứu kế trên chủ yếu dựa trên loại laser He-Ne là loại laser khí có bước sóng 632,8nm và công suất nhỏ (4-25mW). Nhược điểm của loại laser này là có kích thước lớn, công kênh, vận hành khó khăn va đòi hỏi quy trình an toàn rất cao. Hiện nay, laser He-Ne đang dần bị thay thế bởi các loại laser bán dẫn có bước sóng rong, dễ lựa chọn bước sóng, công suất, thiết bị nhỏ gon, an toàn, chế tạo dễ dàng thậm chí có những thiết bị được chế tạo để dùng ở quy mô gia đình.
Điều này đặt ra nhu cầu nghiên cứu, chế tạo một thiết bị laser bán dẫn công suất thấp có bước sóng thích hợp, công suất lớn hơn để rút ngăn thời gian chiếu, vận hành đơn giản, an toàn hơn nhằm điều trị các vết thương hở, gia tốc quá trình lành vết thương làm giảm thời gian lưu bệnh, rút ngăn thời gian điều tri, giảm tải cho bệnh viện. Đây chính là yêu cầu của đề tài luận văn : “Thiết kế chế tạo thiết bị laser bán dẫn công suất thấp điều trị nhanh lành vết thương”. CHUONG 2: CƠ SỞ Y SINH HOC CUA QUA TRÌNH LAM LÀNH VET THUONG Để làm cơ sở cho phân trình bày, tìm hiểu về tác dụng điều trị, gia tốc quá trình lành vết thương bang laser công suất thấp thì việc tìm hiểu tong quan về giải phẫu, cấu trúc va sinh lý da là điều cần thiết để có một cái nhìn tương đối tổng quát về đối tượng ma chùm tia laser công suất thấp tương tác đến. Trong phan này, ta không tìm hiểu qua sâu và chỉ tiết mà chỉ khái quát những kiến thức cần thiết, vừa đủ và liên quan trực tiếp đến mục tiêu luận văn, đồng thời làm cơ sở cho nội dung chương 4 trình bày theo cách tiếp cận lý sinh của phương pháp ứng dụng laser công suất thấp vào điều trị vết thương hở 2.
Cơ sở giải phẫu da: Da là cơ quan có diện tích lớn nhất trong cơ thể, là lớp vỏ bọc ngoài, có nhiều vị trí chuyển tiếp với niêm mạc (môi, mũi, mắt, hậu môn, các lỗ ở cơ quan sinh dục và tiết niệu). Ở người trưởng thành, trung bình da có diện tích khoảng từ 1,5 đến 2 m*. Chiều day của da có sự khác nhau theo từng vùng giải phẫu: da ở mi mắt mỏng nhất, còn ở lòng bàn tay, lòng bàn chân dầy nhất Các chức năng sinh lý chính của da là: ngăn chặn sự thâm nhập của các vi khuẩn và virus gây bệnh, các kháng nguyên; bảo vệ cơ thể trước bức xạ cực tím, các tác động cơ học và hoá học; chứa các giác quan có chức năng điều tiết; điều hoà nhiệt độ: chống thất thoát nước và điện giải; và là một phan quan trong cua hệ thống miễn dich co thé. dLướaip Hình 2.
Sơ đô cấu trúc da (dựa theo hình vẽ từ Merck Manual). Vẻ tổ chức, da được chia thành ba phan cơ ban theo độ sau từ ngoài vào trong là biểu bì (epidermis), chân bì (dermis) và lớp dưới da (hypodermis). Nhiều tài liệu cũng gọi các lớp này là thượng bì, trung bì và hạ bì. Đôi khi người ta coi da chỉ gồm biểu bì và chân bì.
Trên bề mặt da có nhiều lông và nhiều lỗ rất nhỏ của tuyến mô hôi và tuyến bã nhờn. Nang lông có hầu hết trên bề mặt da, ngoại trừ một số vùng như lòng bàn tay và lòng ban chân, trên hai môi của miệng, ở phan quy đầu nam giới và mặt trong môi nhỏ và môi lớn của bộ phận sinh dục nữ. Ranh giới giữa biểu bì và chân bì có nhiều mạch máu nuôi các tô chức mô của da và có tác dụng điêu nhiệt cho bê mặt da. Biéu bì: Là lớp ngoài cùng của da, gồm các tế bảo điển hình của một biểu mô lát tầng.
Biểu bì có độ dày khoảng 70 tới 120 micron, riêng ở lòng bàn tay và bàn chân khoảng 800 tới 1200 micron. Nó không có mạch máu nhưng có nhiều đầu mút dây thần kinh.