CHƯƠNG 1 TONG QUAN VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm liên quan đến côn trùng thiên địch Côn trùng là lớp phong phú nhất trong giới động vật, có một cuộc sống khá phức tạp, đa số côn trùng có khả năng bay. Cơ thể phân chia một cách đặc trưng thành ba phần: đầu, ngực. vý buat Đầu mang một đôi râu, mắt kép và mắt đơn.
Phần phụ miệng phan Ba theo chế độ ăn uống. Ngực mang ba đôi chân có năm đổ và điện hình là hai đôi cánh. Bụng thường không có chân. Đa số eôn trùng sống ở cạn, hô hấp bằng hệ khí quản với các lỗ thở phân bố trên các đất cơ thể.
Cơ quan bài tiết là ống Malpighi. Thường trong chữ trình sống có biến thái và ở những côn trùng biến thái thiếu, không có pha nhộng, thiếu trùng gần giống con trưởng thành. - ( - Nhiều côn trùng là có. lợi như thụ phần cho hoa, ăn thịt hoặc ký sinh trên các loài sâu hai ghumg cing) có một số đáng kể thường xuyên gây ra những tác hại to lớn cho nông, lâm nghiệp và sức khoẻ con người.
Con người đã phải khá vat va “nghiên cứu tìm ra những biện pháp đấu tranh với chúng để giành đại những phân bị mất mát. Khái niệm về côn trắng thiên địch Côn trừñ; thiên địch là côn trùng có khả năng sinh sản cũng như TA, nhưng mật độ cao ít khi đạt được vì côn trùng thường bị nhiều loài động vật khác tấn công làm giới hạn mật độ. Phần lớn động vật tấn công này cũng thuộc lớp côn trùng. Thành phần côn trùng thiên địch rất phong phú, hiện diện khắp mọi nơi, gần như nơi nào có côn trùng gây hại là đều có sự hiện diện của các loài côn trùng thiên địch.
Một ví dụ điển hình về tác động của sự giới hạn côn trùng gây hại bởi thiên địch ăn mỗi là trường hợp của Rệp sáp Icerya purchase, một 4 loại dịch hại rất quan trọng trên cam, quýt tại Califonia. Loại Rệp sáp này đầu tiên được tìm thấy tại California năm 1868 va da gây hại dữ dội trên kỹ nghệ cam quýt tại mién Nam California. Trong hai năm 1888 và 1889, Bọ rùa Rodolia cardinalis từ Australia đã được đưa vào Califonia đề tiêu điệt Rệp sáp và chỉ trong hai năm Rệp sáp /cerya purchase đã bị đẩy lùi ra khỏi các vườn cam quýt tại Califonia. Đối vớiẩf m côn trùng thiên địch sống ký sinh trên những loài khác, có thể kể đến Các loài ong ký sinh thuộc các họ Trichogrammatidae, ‘Braconidae; Chalcididae, Ichueumanidae.
Hién nay, cdc loải ong.mắt đỏ Trichogamma đã được nuôi nhân giống với số lượng lớn và sử dụng rộng rãi khắp nơi trên thế giới để phòng trừ ít nhất 28 loài sâu gây hại trên cây thông, cây ăn trái Tác động của các côn trùng thiên địch (ăn mỗi, ký sinh) rất lớn, có thể nói không có gì mà con người làm có thể so sánh với tác động của côn trùng thiên địch. Với nhiều ưu điểm nỗi trội so với việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật để phòng TY dịcŠ hại. Trong ba thập kỷ qua đã có một sự gia tăng vượt bật i các công trình nghiên cứu và ứng dụng côn trùng thiên địch trong phòng trừ sinh học. Côn trùng thiên địch gồm hai nhóm là côn trùng bắt mỗi ăn thịt 4 — ` Côn t4 thịt là những loài côn trùng lấy nhiều cá thể của các loài động vật khác ~ con mỗi — làm thức ăn cho mình.
Con mỗi của côn trùng ăn thịt chủ yếu là côn trùng khác hoặc các loài động vật như giun, san, sên. Do vậy nên tính chất nguồn thức ăn đa dạng và do luôn phải di chuyển nên tập tính và cấu tạo của cơ thể côn trùng ăn thịt có nhiều nét đặc trưng. Côn trùng ăn thịt thường bắt mỗi bằng miệng hoặc bằng chân. 5s Miệng của côn trùng ăn thịt là miệng gặm nhai hoặc miệng chích hút.
Miệng của các loài côn trung ăn thịt như Bọ ngựa, Kiến, Bọ rùa,. có cấu tạo đặc trưng của miệng gặm nhai. Còn các loài sâu non của những loài có kiểu tiêu hóa ngoài như Đom đóm, Cà niễng,. miệng của chúng có bộ phận được gọi là kim hút.
Bộ phận bắt mỗi đặc trưng là chân. ‘ruse oe | Bọ ngựa (Mantodea) hoặc chân sau của gidng Bittacus, ` 1. Khái niệm và đặc tính chung của cô Hiện tượng ký sinh là một mối quan ệ lân nhau giữa các sinh vật khác loài, trong đó sinh vật ký sinh tìm nguồn thức ăn từ cơ thể sinh vật khác goi là sinh vật ký sinh và sinh vật cấp nguồn thức ăn gọi là ký chủ ( Ký sinh là sinh vật có ấu trùng phát triển xảy ra bên trong hoặc trên bề mặt của sinh vật chủ, đến cái chết của sinh vật chủ, những sinh vật nhỏ hoàn thành bầu hết hoặc tất cả các chu kỳ cuộc sống của chúng trong vật chủ, và iều khả năng nhân mật độ cao trong cơ thể vật chủ. Không phải tất cá các vật ký sinh đều giết chết vật chủ của chúng, nhưng hầu như luôn luôn có tác động tiêu cực về sự tồn tại và sự sinh sản của vật chủ.
Š Ký sính xã hội là hiện tượng ký sinh dựa vào mối quan hệ bầy đàn để tương (ấế lý nhềm giữa các thành viên sinh vật xã hội như kiến hoặc mối. Một Móc -ký sinh trên một loài khác cũng là vật ký sinh như nắm ký sinh trên cơ thé của ong ky sinh trên côn trùng được gọi là ký sinh bậc cao. Côn trùng có thể bị ký sinh bởi nhiều loài sinh vật như: côn trùng ký sinh của côn trùng, tuyến trùng ký sinh côn trùng, sinh vật đơn bào ký sinh côn trùng, nắm ký sinh côn trùng, vi khuẩn ký sinh côn trùng, virus ký sinh côn trùng. a Khái quát tình hình nghiên cứu về côn trùng thiên địch trên thế giới Năm 300 sau công nguyên, ghi nhận đầu tiên sử dụng phương pháp sinh học trong các vườn trồng cam chan‹ Trung Quốc: Kiến o cây đẻ diệt sâu hại, cành tre nhỏ được dung làm cầu cho kiến di chuyển từ cây nọ sang cây kia.
7 x Năm 1000 ~ 1300 người trồng Chà là ở.Ä Tập đưa kiến ăn thịt từ vùng núi lân cận tới các ốc đảo để diệt sâu hại. Ghĩ nhận đầu tiên về việc đi chuyển thiên địch có mục đích. Năm 1763 Linnaeus nhận được giải thưởng cho công trình có tên “Làm thế nào để vườn cây Ằ quả không ` có sâu hại với phương pháp cơ SY = giới và sinh học”. Ss Năm 1840 băng) phát bệnh nấm mốc sương khoai tây (Phytophthora infestans) “Splreland, Anh và Bi dẫn tới nạn đói.
Các nhà nghiên cứu đã sử dung bo chân chạy Calasoma sycophanta diét sâu non sâu róm họ Ngài độc.< 1878 Rệp hại rễ nho (ƒieus vijfoliae) từ Mỹ xâm nhập vào Pháp: si chấm đứt ngành công nghiệp rượu nho của Pháp. Việc thả thiên dich Pyroglyphus phylloxerae dua Bac My sang vao nam 1873 đã giúp cứu văn tình thế. Năm 1883, Ong kén Apameles glomerarus được nhập từ Liên hiệp Anh vào Hoa Kỳ để phòng trừ sâu non bướm phan (Pieris rapae cabbage white butterfly). Nam 1888, thành công lớn đầu tiên trong việc nhập thiên địch là bọ rùa (Rodolia cardinalis) tit Australia dé diệt Tệp sáp hại cam chanh (Icerya purchasi) ở Hoa Kỳ.
Năm 1901, thành công đầu tiên sử dụng phương pháp sinh học trừ cây Bông ôi (Ngũ sắc ~ anana) & Hawai. Năm 1920 — 1930 trên 30 trường hợp sử.đụng thiên địch được ghi nhận trên toàn thế giới. : Nam 1978, Sở nghiên cứu động ý: “trước Đại học Nông nghiệp Triết Giang cho xuất bản cuốn “Hình vẽ côn trùng thiên địch”, trong đó đề cập đến đặc điểm sinh học của côn trùng ăn thịt. Khái quát tình hình nghiên cứu VỀ côn trùng ở Việt Nam * Vệ nghiên cứu đa dạng sinh học ở cấp độ loài trong hệ sinh thái.
Năm 1999, trên Tạp chí Bảo vệ thực vật Phạm Văn Lầm đã xác định tên khoa học của thiên địch thù được trên rau họ hoa thập tự. Kết quả thu thập được 56 loài thiên địch trên rau họ hoa thập tự. Đã xác định được tên khoa học cho 48 loài gồn) 24 loài bắt mỗi, 11 loài ký sinh sâu hại, 8 loài ký sinh bậc hai và 5 loài ký-Sỉnh trên các con trùng bắt mồi. Trên Tuyển tập Công trình nghiên cứu bảo vệ thực vật 2000 — 2002, Viện Bảo vệ thực vật (rang 150 — 154), đã đăng tải nghiên cứu của Phạm Văn Lằm về mị hiểu thành phần loài thuộc họ ong cự.
Từ năm 1981 tới năm 2002; Pham ăn Lầm đã tiến hành điều tra trên các cây trồng như lúa, ngô, đậu đô. rau nhiều tỉnh thành, đã thu thập được hơn 70 dạng loài thuộc ho Ichneumonidae. Tuy nhiên mới xác định được tên khoa học cho 46 loài, trong đó có 11 loài chỉ được xác định đến tên giống. Trong số các loài đã xác định được tên khoa học, có 19 loài được ghi nhận đầu tiên cho khu hệ côn trùng ở Việt Nam.
Cũng trên Tuyển tập Công trình nghiên cứu bảo vệ thực vật 2000 ~ 2002, Viện Bảo vệ thực vật (trang 155 — 160), da đăng tải nghiên cứu thiên địch trên nhóm cây đậu ăn quả của Phạm Văn Lầm và cộng sự. Trong thời gian 1996 — 2000, đã thu thập được hơn 40 loài thiên địch của sâu hại nhóm cây đậu ăn quả, trong đó mới định danh được tên cho 30 loài. Trong báo cáo Khoa học Hội nghị toàn quốc 2004 “Những vấn đề Nghiên cứu cơ bản trong Khoa học Sự sống”, Thái Nguyên 23 ~ 09— 2004 (trang 807 — 810) da dang nghiên cứu thành. địch trên cây ăn quả có múi của Phạm Văn Lầm.
Trong thời gian 1996— 2003, kết quả thu được 172 loài thiên địch, thuộc 12 bộ côn tring; nhện và nắm. Đến năm 2004 xác định tên khoa học cho 92 loài. Những loài đã xác định tên được gồm 35 loài ký sinh, 53 loài bắt mỗi và 4 loài nấm gây bệnh sâu hại. Báo báo Khoa học Hội nghị Côn trùng học toàn quốc (lần thứ 5), Hà Nội 11-14/04/2005 (trang 87 ~92), đã đăng kết quả nghiên cứu về thiên địch của Rệp muội của Phạm van Lầm.
Kết quả đã xác định được 52 loài thiên địch của một số loãi nuôi Hai cây trồng. Chúng thuộc 4 bộ côn trùng (Coleoptera, Diptera} )Hymenoptera va Neuroptera). Trong đó, bộ cánh cứng có số loài đã thu được nhiều nhất. * Các nghiên cứu vềđặc điểm sinh vật học của loài.
Tạp chí Bảo xe thực vật, 1999 đã đăng kết quả nghiên cứu đặc điểm sinh hod đối “yea của Bọ rùa hai mảng d6 Lemnia biplagiata cua Quách Thị Ngọ ‘yaPham Van Lam.