CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA THỊ TRƯỜNG THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ 1. Khái niệm về thị trường thông tin khoa học và công nghệ Sự phát triển mạnh mẽ của thông tin KH&CN trong những thập niên gần đây đã mang lại những tác động to lớn và những biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh. vực hoạt động kinh tế, văn hóa, xã hội ở khắp các nước trên thế giới. Thời đại mà chúng ta đang sống là thời đại của nền kinh tế thế giới đang chuyền biến từ nên kinh tế chủ yếu dựa vào tài nguyên hạn hẹp của thiên nhiên sang một nền kinh tế thông tin và trí tuệ.
“Trong bối cảnh của nền kinh tế thể giới, vai trò của thông tin, nhất là thông. tin khoa học và công nghệ ngày càng nâng cao. Ở nhiều nước thông tin thực sự trở thành hàng hóa và một thị trường thông tin, một nền kinh tế thông tin ra đời là một tất yếu. Với khả năng xử lý, lưu trữ và truyền một khối lượng lớn các dữ liệu với tốc độ cao, việc sử dụng máy tính điện tử để xử lý thông tin đã tạo ra những thay đổi trong tổ chức hoạt động và cách thức chuyển giao thông tin.
này đã kích thích việc nảy sinh những nhu cầu thông tin mới và do đó kích thích việc tạo ra các sản phẩm mới có hàm lượng thông tin với chất lượng cao hơn. Thập niên 1980-1990 của thế kỷ XX có thể coi là thập niên của thông tin mà sự kiện đáng chú ý là một “Thị trường thông tin” và một nền “Công nghiệp thông tin” đã thực sự bắt đầu hình thành. Hàng loạt các ngân hàng dữ liệu lưu trừ thông tin với khối lượng lớn và chất lượng cao ra đời. Nhiều tổ chức môi giới và dịch vụ thông tin được hình thành, thỏa mãn nhu cầu đa dạng của người dùng tin.
Từ những thông tin sơ cắp ban đầu, còn gọi là dữ kiện (data), người ta chế biến, lưu giữ, phân tích để tạo ra những thông tin có giá trị cao, gọi là thông. 14 tin có giá trị gia tăng đã được qua xử lý, chế biến sẽ trở thành hàng hóa, có những giá trị cao trên thị trường. Một ngành mới phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây là ngành dịch vụ bán thông tin có giá tri gia ting (Value added information services). Ở Mỹ ngành này có doanh thu năm 2003 ước tính 25,5 tỷ USD, bằng 23% giá trị sản xuất máy tính và có tốc độ tăng trưởng 14-16% năm.
Củng với sự phát triển của thị trường thông tin là sự thay đổi xã hội, đó là sự thay đổi trong phân công lao động của con người: những công việc có liên quan đến thông tin có chiều hướng gia tăng. Xu hướng phân bố lao động ở Mỹ: Vào những năm đầu thế kỷ XXI ở Mỹ số người tham gia vào công việc xử lý thông tin nhiều hơn số người sản xuất ra lương thực, chế tạo ra hàng hóa và làm công việc dịch vụ. Xu hướng xã hội đó không dễ bị đảo ngược và không có lý do gì để có thể tin rằng khu vực thông tin mắt vị trí của nó trong thị trường lao động. Và như vậy công nghệ thông tin sẽ có tác động trực tiếp tới một số bộ phận lớn lao động ở các nước phát triển.
Mặt khác giá trị của lao động trên thị trường lĩnh vực thông tin cũng cao hơn rất nhiều so với các lao động khác. Người ta không thể so sánh kết quả lao. động của một giáo viên, một kỳ sư, một nhà sản xuất với sản phẩm thông tin trong hệ thống thông tin trực tuyến. Dưới tác động của công nghệ thông tin, cơ cấu sản phẩm xã hội cũng có nhiều thay đổi.
Các sản phẩm đáp ứng nhu cầu thông tin (máy thu thanh, thu hình, máy tính cá nhân, video, điện thoại truyền hình.) đang không ngừng tăng lên nhanh chóng về chủng loại, số lượng và chất lượng. Từ đó dẫn đến hình thành một thị trường thông tin Từ sự phân tích trên, PGS. Đoàn Phan Tân đã đưa ra quan điểm của mình về các thành viên của thị trường thông tin khoa học và công nghệ [31] 1- Người sản xuất ra thông tin: Thu thập thông tin trong các lĩnh vực từ các nguồn tin, xử lý, biên tập tao ra các sản phẩm thông tin, sản xuất ra các CSDL. 15 Để đáp ứng yêu cầu thông tin của nhiều loại đối tượng khác nhau và để bao quát được rất cả các dạng thông tin khoa học kỹ thuật và kinh tế xã hội, nhiều cơ quan sản xuất thông tin, sản xuất các CSDL và ngân hàng dữ liệu ra đời.
Đó là các cơ quan thông tin tư liệu quốc gia, các tổ chức xã hội, kinh tế và nghề nghiệp, các hội khoa học, các công ty, xí nghiệp lớn. Ví dụ: Viện Thông tin Khoa học Kỹ thuật Pháp (INIST thuộc CNRS) là nới sản xuất hai CSDL lớn: Pascal và Francis. 2- Người làm dịch vụ phân phối thông tin: Tích nhập các CSDL của người sản xuất trên máy tính điện tử và cung câp cho người dùng tin các thông tin này nhờ một phần mềm chuyên dụng. Các cơ quan dịch vụ thông tin thường sử dụng tin học viễn thông để nối giữa người dùng tin với các CSDL và ngân hàng dữ liệu.
Đó là các tổ chức dịch vụ có trách nhiệm xử lý và khai thác thông tin bằng các phương tiện của tin học, đồng thời thương mại hóa các sản phẩm thông tin (phát triển phần mềm, kinh doanh thông tin và hướng dẫn yêu cầu). Các cơ quan dịch vụ thông tin không chỉ đảm bảo tiếp cận thông tin của các CSDL và ngân hàng dữ liệu trong nước mà còn tiếp cận các CSDL và ngân hàng. dữ liệu ở nước ngoài. 'Ví dụ: Dialog là cơ quan dịch vụ thông tin của Mỹ đảm nhiệm cung cấp thông tin gần 400 ngân hàng dữ liệu cho người dùng tin, Questel là cơ quan dịch vụ thông.
tin của Pháp đảm nhiệm cung cắp thông tin của 50 ngân hàng dữ liệu. 3- Mạng lưới chuyển giao thông tin: có nhiệm vụ chuyển thông tin đế người sử dụng nhờ một mạng lưới viễn thông. Các mạng lưới này có thể là mạng lưới điện thoại công cộng, mạng thuê bao, mạng truyền dữ liệu. Ví dụ: Ở Pháp mạng điện thoại đạt tới 24 triệu đường liên lạc trong năm 1986, mạng Telecoml là mạng truyền dữ liệu sử dụng vệ tỉnh, mạng Transpact có thê kết nối với các mạng truyền dữ liệu khác ở châu Âu và các nước khác.
16 4- Người dùng tin: có thê là người dùng tin cuối cùng (khách hàng) hay qua khâu trung gian (người làm môi giới trung gian hay các cán bộ thông tin tư liệu). Tất cả các nhân tố trên tạo nên một hệ thống cung ứng thông tin mà người ta gọi là hệ thống thông tin trực tuyén (Online Inforrmation Systeme). Theo quan điểm của TS. Kinh tế học Rodionvo L Giáo sư Đại học Tổng.
hợp Quốc gia, Trường Kinh tế Cao cấp (Liên bang Nga): Thị trường thông tin KH&CN hiện nay có thể chia thành 3 lĩnh vực tương tác lẫn nhau. ~ Thông tin (một mặt, đó là các CSDL có thể truy cập được qua mạng dưới dạng điện tử do công ty chuyên xây dựng CSDL tạo ra, mặt khác, đó là các dịch vụ được tổ chức để có thể truy cập đến CSDL dưới dạng điện tử do công ty chuyên khai thác CSDL tạo ra), nói một cách khác, đó chính là bản thân thị trường sản phẩm và dịch vụ thông tin KH&CN; - Giao dịch điện tử: Thương mại điện tử, tác nghiệp tài chính và chứng khoán; - Truyền thông điện tử toàn cầu: Tô chức hoạt động của mạng. Lẽ dĩ nhiên thị trường thông tin KH&CN rộng hơn và phong phú hơn 3 lĩnh vực nói trên. Ngoài ra còn có các bộ phận cấu thành quan trọng khác của nó như các dịch vụ thuộc lĩnh vực thu thập, xử lý và phổ biến thông tin; các dịch vụ đặc thù của kho lưu trữ, dịch vụ về nghiên cứu thiết kế các hệ thống thông tin; tư vấn chiến lược; lập trình và áp dụng phần mềm.
Thị trường thông tin nhờ sự phát triển của công nghệ điện tử, chúng ngày càng định hướng vào người tiêu dùng cụ thể, nghĩa là hòa vào với các dịch vụ thông tin khác. Từ những sự phân tích trên và từ quan sát thực tiễn, theo chúng tôi có thể nêu ra một định nghĩa khái quát hơn về thị trường thông tin KH&CN như sau: Thị trường thông tin KH&CN là nơi diễn ra các mối quan hệ trao đổi sản phẩm thông tìn KH&CN: giữa người sản xuất và người tiêu dùng thông tin thông qua vật trung gian là đẳng tiền (thẻ hiện dưới dạng giá cả) Chúng tôi xin phân tích và làm rõ thêm nội dung của định nghĩa này: 7 - Cũng tương tự như các thị trường thông thường, thị trường thông tin KH&CN ra đời và tồn tại và phát triển là kết quả tất yếu của sự phân công lao. đông xã hội nói chung và trong lĩnh vực thông tin KH&CN nói riêng; là kết quả của sự phát triển và năng suất lao động ngày càng cao của hoạt động thông tin KH&CN; là hợp phần rất quan trọng của nền sản xuất hàng hóa thông tin và là bộ phận quan trọng của thị trường chung. Nói một cách khác ngắn gọn, chính xác hơn: Thị trường thông tin KH&CN chỉ hình thành nên khi sản phẩm thông tin KH&CN trở thành hàng hóa.
- Noi (địa điểm) diễn ra các mối quan hệ trao đổi có thể hữu hình hoặc vô hình. Việc mua bán các sản phẩm thông tin chỉ là biểu hiện cụ thể của sự trao đổi trên một địa điểm, một nơi cụ thể. ~ Đồng tiền (được thể hiện dưới dạng giá cả của các sản phẩm) là công cụ - vật trung gian của sự trao đổi các sản phẩm thông tin giữa người sản xuất và người tiêu dùng trên thị trường thông tin Theo quan điểm của K, Mác: Giá cả là sự biểu hiện bằng đồng tiền của giá trị sản phẩm hàng hóa. Tuy nhiên, trong thực tiễn: Giá cả của sản phẩm hàng hóa là sự thỏa thuận giữa người mua và người bán trên thị trường, nhưng nó vẫn phải xoay quanh giá trị của sản phẩm hàng hóa.
Với định nghĩa khái quát va sự phân tích một cách đầy đủ các mặt về thị trường thông tin KH&CN trên đây, chúng ta có thể vận dụng nó vào bất kỳ nơi nào, trong mọi lĩnh vực hoạt động thông tin KH&CN ở nước ta hiện nay. 'Để bồ sung và làm rõ thêm vẻ bản chất, tính đặc trưng của thị trường thông, tin KH&CN, chúng tôi tiếp tục đề cập đến các vấn đề liên quan trong các mục tiếp sau đây.