Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TỘC NGƯỜI TÀY Ở ĐỊNH HÓA, THÁI NGUYÊN VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THEN TÀY 1. Tổng quan về tộc người Tày ở Định Hóa, Thái Nguyên 1. Dân số, nguồn gốc và địa bàn sinh tụ Định Hóa là một huyện miền núi phía Tây Bắc tỉnh Thái Nguyên được biết đếm với di tích quốc gia đặc biệt An toàn khu Định Hóa. Diện tích tự nhiên: 52057,4 8 ha (tính đến năm 2005), dân số toàn huyện có 89 510 người, mật độ dân số 171,24 người /km2.
Về vị trí địa lý, Định Hóa giáp tỉnh Bắc Kạn về phía bắc và phía đông; giáp tỉnh Tuyên Quang về phía tây; giáp huyện Đại Từ và huyện Phú Lương về phía nam. Địa hình của huyện chia thành hai vùng rõ rệt. Phía Bắc là những dãy núi đá vôi chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam có độ dốc lớn và nhiều hang động. Phía Nam là những dãy đồi núi thấp có nhiều rừng già, đất đai màu mỡ.
Định Hóa nằm ở trung tâm vùng Việt Bắc, có nhiều đường bộ đi các địa phương có thể lên biên giới phía Bắc, đi Tây Bắc, Đông Bắc tới trung du, xuống đồng bằng thuận lợi. Từ xa xưa về mặt quân sự Định Hóa luôn là địa bàn chiến lược quan trọng, tiến có thể đánh, lui có thể giữ. Để tồn tại và phát triển, nhân dân Định Hóa ngoài việc phải đấu tranh chế ngự thiên nhiên còn phải thường xuyên đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Trong gần 10 thế kỷ (thế kỷ I đến thế kỷ X) dưới ách thống trị của phong kiến Trung Quốc nhân dân Định Hóa góp phần cùng nhân dân cả nước kiên cường, bền bỉ chống lại ách nô dịch và âm mưu đồng hóa của chúng.
Gần 10 thế kỷ tiếp theo (thế kỷ XI đến thế kỷ XVIII) các dân tộc Định Hóa lại cùng nhân dân cả nước đánh bại nhiều cuộc xâm lược của ngoại bang [43]. Khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, sau khi chiếm thành Thái Nguyên tháng 5/1884 và bình định các vùng lân cận, tháng 10/1886 Pháp đánh chiếm Định Hóa. Trước sự xâm lược của thực dân Pháp nhân dân Định Hóa lại đoàn kết vùng lên chống Pháp. Sau khi Đảng ta ra đời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào cách 8 c mạng ở Định Hóa phát triển mạnh mẽ.
Cùng với nhân dân cả nước tháng 8/1945 nhân dân các dân tộc trong huyện nổi dậy giành chính quyền cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp thần thánh của dân tộc, do có vị trí chiến lược đặc biệt Định Hóa được chọn làm căn cứ địa nơi các cơ quan đầu não kháng chiến, các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Đảng, và Nhà nước ở và làm việc. Tháng 5/1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh về ATK Định Hóa, người đặt đại bản doanh ở đồi Khau Tý xã Điềm Mặc. Xã Phú Đình là nơi Bác ở nhiều lần trong nhiều năm tháng, cùng Trung ương Đảng, Chính phủ, Bộ Tổng tư lệnh có những quyết định quan trọng: Nà Lọm là nơi Bác chủ trì họp Hội đồng Chính phủ, làm lễ thụ phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp.
Đồi Tỉn Keo dưới chân đèo De là nơi Bác chủ trì Hội nghị Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ, đồi Nà Đình, Khuôn Tát là nơi Bác ở và làm việc nhiều thời kỳ, nơi các đồng chí Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp… thường đến làm việc với Bác…Tại ATK Định Hóa, Tổng bí thư Trường Chinh và Văn phòng Trung ương Đảng chủ yếu làm việc trong các bản làng, các vạt rừng ở xã Điềm Mặc, xã Phú Đình…Nhiều cơ quan Trung ương đều ở và làm việc tại Định Hóa…[43]. Mảnh đất ATK Định Hóa trong những năm kháng chiến còn là nơi ra đời nhiều chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, nơi tổ chức nhiều hội nghị quan trọng của Trung ương Đảng, Hội đồng Chính phủ, Mặt trật Việt Minh, mặt trật Liên Việt…Trong những năm tháng ấy, nhân dân các dân tộc Định Hóa đã nhường nhà, giúp đỡ bảo vệ an toàn cho các cơ quan đầu não của Đảng và Nhà nước. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, trên 3.000 con em nhân dân các dân tộc Định Hóa đã lên đường cầm súng bảo vệ Tổ quốc, hàng trăm người đã chiến đấu hy sinh anh dũng hoặc để lại một phần thân thể nơi chiến trường. Với nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhân dân và lực lượng vũ trang huyện Định Hóa và nhiều xã trong huyện được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Đến với Định Hóa là đến với vùng đất của lịch sử. Khu di tích lịch sử ATK Định Hóa trong thời kỳ chống Pháp nơi ở và làm việc của chủ tịch Hồ Chí Minh, nơi ở và làm việc của đồng chí Trường Chinh, nơi thành lập Việt Nam Giải phóng quân, 9 c Nhà tù Chợ chu… đã được xếp hạng cấp Quốc gia, được phục hồi tôn tạo để hàng năm đón tiếp lớp lớp du khách hành hương về nguồn cội. Khí hậu của huyện chịu ảnh hưởng sâu sắc của khí hậu trung du miền núi phía Bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 21,5oC với độ ẩm trung bình hàng năm dao động từ 70 - 80%.
Lượng mưa hàng năm phân bố không đồng đều, trung bình 1718 - 1850 mm. Định Hóa chịu ảnh hưởng của hai loại gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió Đông Nam. Khí hậu của huyện Định Hóa mang đầy đủ đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm mưa nhiều vào mùa hè và lạnh, hanh, khô vào mùa đông [42]. Đất đai của huyện Định Hóa gồm 3 loại đất chính là đất feralit đỏ vàng, đất feralit hình thành trên đồi núi thấp màu đỏ hoặc vàng và đất thung lũng chủ yếu do tích tụ phù sa của sông, suối thích hợp cho việc trồng lúa.
Đất này chủ yếu ở phía Nam nên phía Nam của huyện trở thành vựa lúa của toàn huyện. Định Hóa không có các con sông lớn mà là hệ thống kênh suối nhỏ nên không có giá trị về giao thông đường thủy, chủ yếu phục vụ sinh hoạt, tưới tiêu nước cho gần 7200 ha đất canh tác của huyện [42]. Rừng là tài nguyên thiên nhiên quan trọng của huyện, chiếm 90% diện tích tự nhiên. Rừng ở Định Hóa có nhiều lâm sản quý như nghiến, lim, sến, nứa, trám, măng,… và nhiều loại thú rừng, thuốc nam quý hiếm.
Đặc biệt là nơi có khả năng phát triển cây công nghiệp nhất là cây chè. Với vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên trên, Định Hóa có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp và là nơi thuận lợi để các dân tộc định cư lâu dài. Huyện Định Hóa gồm có 24 đơn vị hành chính cấp phường xã gồm 1 thị trấn và 23 xã : Thị trấn Chợ Chu, xã Bảo Cường, xã Bảo Linh, xã Bình Thành, xã Bình Yên, xã Bộc Nhiêu, xã Điềm Mặc, xã Định Biên, xã Đồng Thịnh, xã Kim Phượng, xã Kim Sơn, xã Lam Vỹ, xã Linh Thông, xã Phú Đình, xã Phú Tiến, xã Phúc Chu, xã Phượng Tiến, xã Quy Kỳ, xã Sơn Phú, xã Tân Dương, xã Tân Thịnh, xã Thanh Định, xã Trung Hội, và xã Trung Lương [42]. Định Hóa là huyện miền núi của tỉnh Thái Nguyên, trên địa bàn huyện có tám dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó dân tộc Tày đông nhất chiếm gần 50% dân số.
Mặc dù nhiều dân tộc với phong tục, tập quán khác nhau nhưng nhân dân các dân 10 c tộc trong huyện luôn đoàn kết vượt qua khó khăn xây dựng và bảo vệ quê hương. Hiện nay, trên địa bàn huyện có tám dân tộc anh em cùng sinh sống gồm Kinh, Tày, Nùng, Cao Lan, Mường, Mông, Sán Dìu, Hoa, trong đó dân tộc Tày đông nhất chiếm gần 50% dân số và tập trung chủ yếu ở các xã: Linh Thông, Lam Vỹ, Quy Kỳ, Bộc Nhiêu, Định Biên, Phúc Chu. Mặc dù nhiều dân tộc với phong tục, tập quán khác nhau nhưng nhân dân các dân tộc trong huyện luôn đoàn kết vượt qua khó khăn xây dựng và bảo vệ quê hương [42]. Theo như nhận định trong tác phẩm “Đất nước Việt Nam qua các đời” của Đào Duy Anh thì “Người Tày ở nước ta có nguồn gốc từ người Lão Man ở Trung Quốc, cụ thể người Nùng ở miền Nam Trung Quốc và người Tày ở Bắc Việt Nam”.
Ngoài nguồn gốc từ phía Nam Trung Quốc, người Tày ở Định Hóa còn một bộ phận “Tày hóa”. Người Kinh trong lịch sử đã có quá trình di cư lên Định Hóa sinh sống cùng người Tày và dần dần họ trở thành người Tày. Một bộ phận người Tày hiện nay nếu xem xét gia phả thì hoàn toàn là người Việt. Người Tày ở Định Hóa có kinh nghiệm về thâm canh lúa nước, làm nương rẫy, trồng trọt và chăn nuôi phát triển.Với đặc điểm cư trú ở những vùng thấp, ven chân đồi nơi có nguồn nước nên người Tày ở đây có điều kiện thuận lợi để canh tác lúa nước.
Ruộng của người Tày được khai phá từ đất bằng phẳng ven sông ở các vùng thung lũng có độ màu mỡ cao hoặc khai phá các thửa ruộng rìa đồi rừng. Tên các cánh đồng đó thường được bắt đầu bằng từ “nà” như Nà Chằm, Nà Luông, Nà Phai… Trong canh tác lúa nước người Tày biết dùng phân bón, chủ yếu là phân trâu để bón ruộng. Hệ thống thủy lợi tương đối phát triển bao gồm: hệ thống mương, phai [44]. Người Tày ở Định Hóa nói riêng và đồng bào Tày ngoài ra họ còn tiến hành các nghề thủ công khác nhằm tạo ra sản phẩm phục vụ cho đời sống hàng ngày của gia đình như kéo sợi, dệt vải, đan lát, làm mộc, rèn đúc cuốc, dao.
Bên cạnh đó họ con chăn nuôi trâu, bò lấy sức kéo, chăn nuôi lợn, gà, vịt, cá nhằm tạo ra nguồn thu nhập cho gia đình. Đời sống văn hóa, xã hội Quan hệ xã hội Người Tày ở huyện Định Hóa, Thái Nguyên có tập quán cư trú thành làng, bản. Bản, làng là đơn vị tụ cư của nhiều dòng họ lấy quan hệ láng giềng làm cơ sở, mỗi 11 c làng, bản có những quy định và thiết chế tự quản riêng. Mỗi bản, làng thường có từ 30 đến 60 nóc nhà và thường nằm trong các thung lũng, có sông, suối hay đồi núi bao quanh [43].
Mỗi bản có một phạm vi cư trú và giới hạn đất đai riêng và có đường phân giới thường là các đường mòn, khe núi, khe suối, đèo…được công nhân theo quy ước của dân làng các bản.