Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nghiên cứu sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình nghiên cứu sử dụng đất nông nghiệp trên thế giới Lịch sử của thế giới đã chứng minh bất kỳ nước nào dù là phát triển hay đang phát triển thì sản xuất nông nghiệp đều có vị trị quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, tạo ra sự ổn định xã hội và mức an toàn lương thực quốc gia. Sản xuất nông nghiệp tạo ra lương thực, thực phẩm để nuôi sống con người, đồng thời cũng tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho nông dân ở các nước đang phát triển và các nước đất đóng bằng và 13.251 triệu ha đất không phủ băng.
Diện tích đất thế giới hiện nay được chia thành: 20% ở vùng quá lạnh, 20% ở vùng quá khô, 20% ở vùng quá dốc, 10% có tầng đất mỏng, 10% ở vùng trồng trọt được, 20% có thể làm đồng cỏ, đất trồng trọt chiếm tỉ lệ thấp, trong đó, đất có năng suất cao (14%), trung bình (28%) và thấp (58%) (nguồn FAO-UNESCO). Như vậy, đất trên thế giới phân bố không đều, đất xấu nhiều, đất tốt ít. Những hạn chế làm ảnh hưởng cho việc sản xuất nông nghiệp là do đất quá khô, quá lạnh, đất dốc, đất nghèo dinh dưỡng, đất quá mặn, quá phèn hay đất bị ô nhiễm, bị phá hoại do những hoạt động sử dụng đất không hợp lý của con người… Diện tích đất có khả năng canh tác chỉ còn khoảng 3.030 triệu ha, hiện con người mới khai thác hơn 1.500 triệu ha đất canh tác; trên thế giới hiện có 2.000 triệu ha đất đã và đang bị thoái hóa, tập trung chủ yếu là ở Châu Á, Thái Bình Dương. Diện tích đất canh tác trên đầu người của thế giới hiện nay chỉ còn khoảng 0,23ha, ở nhiều quốc gia Châu Á, Thái Bình Dương lại dưới 0,15ha.
Mặt khác do Châu Á, khu vực Thái Bình Dương là nơi tập trung phần lớn dân số trên thế giới, ở đây có các quốc gia đông dân nhất nhì thế giới đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Indonexia,…; ở đây, đất đồi núi lại chiếm hơn 35% tổng diện tích. Tiềm năng đất trồng trọt nhờ nước mưa trời là khá lớn, khoảng 407 triệu ha, trong đó xấp xỉ 282 triệu ha đang được trồng trọt và 100 triệu ha chủ yếu nằm trong vùng nhiệt đới ẩm của Đông Nam Á. Phần lớn diện tích khu vực này là đất dốc và chua, khoảng hơn 40 - 60 triệu ha 5 trước đây vốn là rừng tự nhiên che phủ nhưng đến nay do bị khai thác cạn kiệt nên rừng đã bị phá hủy và thảm thực vật chuyển thành những cây bụi, cỏ dại. Theo tính toán của tổ chức lương thực thế giới (FAO), với trình độ sản xuất trung bình như hiện nay trên thế giới để có đủ lương thực, thực phẩm thì mỗi người cần có 0,4ha đất canh tác.
* Những nghiên cứu về sử dụng đất nông nghiệp của một số nước có nền sản xuất nông nghiệp điển hình: Thái Lan là nước đầu tư nhiều cho khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học để tạo ra nhiều giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao, chất lượng tốt mang lại giá trị xuất khẩu lớn. Tại cuộc triển lãm nông nghiệp thế giới, Thái Lan đã làm nhiều nước phải kinh ngạc với những giống cây trồng có năng suất cao như cà chua hàng tạ quả, giống bó đỏ có quả khổng lồ. Ngày nay, ở nhiều nước, những lợi thế của điều kiện tự nhiên đã được khai thác gần tối đa, nên muốn có năng suất cao phải tìm cách đầu tư vào khoa học công nghệ, nhất là công nghệ sinh học. Tiến bộ khoa học công nghệ về sinh học sẽ tạo ra những bộ giống cây trồng vật nuôi có khả năng thích nghi với thời tiết, khí hậu khắc nghiệt và có năng suất cao, chất lượng tốt (Ksor Phước, 2002) [16].
Tại Nhật Bản có rất nhiều các nhà khoa học nghiên cứu về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và họ cho rằng: quá trình phát triển của hệ thống nông nghiệp nói chung và hệ thống cây trồng nói riêng là sự phát triển đồng ruộng đi từ đất cao đến đất thấp. Điều đó có nghĩa là hệ thống cây trồng đã phát triển trên đất cao trước, sau đó mới đến đất thấp. Đó là quá trình hình thành của sinh thái đồng ruộng. Nhà khoa học Otak Tanakad đã nêu lên những vấn đề cơ bản về sự hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế - xã hội.
Các nhà khoa học Nhật Bản đã hệ thống tiêu chuẩn hiệu quả sử dụng đất đai thông qua hệ thống cây trồng trên đất canh tác: là sự phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi. Cường độ lao động, vốn đầu tư, tổ chức sản xuất, sản phẩm làm ra, tính chất hàng hóa của sản phẩm. 6 Còn kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy, việc khai thác và sử dụng đất đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế - xã hội nông thôn toàn diện. Chính phủ Trung Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ sở hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất.
Thực hiện hệ thống trách nhiệm và tính chủ động sáng tạo của nông dân trong sản xuất. Thực hiện chủ trương “ly nông bất ly hương” đã thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội nông thôn phát triển toàn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Năm 2007, Chih-Hai Yang đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đất canh tác trong nông nghiệp Trung Quốc, kết quả chỉ ra rằng cùng với sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, đã bùng nổ cầu về các sản phẩm nông nghiệp, nhưng việc tăng cường sử dụng đất đối với các lĩnh vực sản xuất khác đã gây ra sự suy giảm trong tổng diện tích đất canh tác; hoạt động sáng tạo, đa dạng hóa sản xuất và vốn đầu tư nước ngoài là những yêu tố có một mối quan hệ tích cực đáng kể với hiệu quả sử dụng đất canh tác trong nông nghiệp Trung Quốc. Nước Mỹ là nước có ngành nông nghiệp tân tiến, hiện đại nhất thế giới, lao động nông nghiệp chỉ chiếm khoảng 1% trong tổng số dân hơn 322 triệu người.
Diện tích nước Mỹ là 9.923 km2, trong đó diện tích đất có thể canh tác được chiếm 18,1%. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp Mỹ tháng 02/2014, Mỹ có 2.363ha tổng số các nông trại, trung bình mỗi nông trại có diện tích 174ha. Xuất nhập khẩu nông sản, Mỹ là nước dẫn dầu thế giới, ước tính chiếm 18% thị trường thương mại nông sản của toàn cầu. Từ năm 1960 đến năm 2014, Mỹ luôn thặng dư về thương mại các sản phẩm nông nghiệp, ví dụ như xuất khẩu nông sản năm 2014 ước tính đạt 149,5 tỷ đô la, chiếm hơn 10% tổng kim ngạch xuất khẩu tất cả các mặt hàng và thặng dư mậu dịch nông nghiệp lên đến hơn 38,5 tỷ đô la Mỹ.
Nước Mỹ có những chính sách hỗ trợ hiệu quả cho việc phát triển nông nghiệp của Chính phủ; phát huy tính tự chủ và sáng kiến của người nông dân trong sản xuất nông nghiệp; áp dụng phương tiện và kỹ thuật hiện đại trong sản xuất nông nghiệp thay thế sức người và sức súc vật đã khiến cho năng suất lao động tăng mạnh. Với những lý do trên, ngành nông nghiệp Mỹ đã đạt được những thành tựu to lớn, đóng 7 vai trò quan trọng trong nền kinh tế Mỹ, với các thực phẩm dồi dào với giá rẻ, tạo thêm công ăn việc làm cho các ngành chế biến, sản xuất máy móc và đặc biệt dịch vụ xuất khẩu nông phẩm khắp thế giới. Tình hình nghiên cứu sử dụng đất nông nghiệp tại Việt Nam Việt Nam có tổng diện tích tự nhiên là 33.731 ha, diện tích nhóm đất nông nghiệp là 26.953 ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 10.717 ha, đất lâm nghiệp là 15.333 ha, đất nuôi trồng thủy sản là 707.827 ha, đất làm muối là 17.887 ha và đất nông nghiệp khác là 20. Cơ cấu sử dụng đất ở Việt Nam có xu hướng giống thế giới: tăng đất nông nghiệp, giảm đất rừng, tăng đất chuyên dùng và đất trống đồi trọc.
Chỉ với 0,12 ha đất nông nghiệp bình quân đầu người, bằng một phần sáu mức trung bình của thế giới, mức này tương tự như ở Bỉ và Hà Lan, cao hơn Philippines và Ấn Độ nhưng thấp hơn so với Trung Quốc hay Indonesia. Nước ta chiếm phần lớn dân số làm nghề nông, bình quân diện tích đất canh tác trên đầu người người nông dân lại rất thấp và manh mún dang là một trở ngại lớn. Tổng diện tích nông nghiệp tăng 61% giữa năm 1990 và năm 2012 chủ yếu do phá rừng. Sự mở rộng này chủ yếu diễn ra trong những năm 1990, từ đó diện tích đất canh tác duy trì tương đối ổn định.
Điều này cho thấy rằng hầu hết đất canh tác có thể khai thác đang được sử dụng trong trồng trọt, nếu muốn tăng trưởng hơn thì phải thực hiện thông qua tăng năng suất, mặc dù mức năng suất hiện nay của Việt Nam đã rất cao so với các nước Châu Á. Hiện đang có áp lực chuyển đổi đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp có giá trị sử dụng cao hơn (cả thành thị và khu công nghiệp). Việc chuyển đổi này tạo ra một động lực mạnh mẽ để tăng mức độ thâm canh đất trong bối cảnh chi phí lao động rẻ, đất màu mỡ ở một số khu vực và điều kiện khí hậu tương đối tốt (OECD, 2015) [25]. Trong khi tỷ lệ đầu vào vốn vẫn tương đối nhỏ, thì việc sử dụng phân bón/ha đã tăng 80% trong gia đoạn 2010 - 2012 so với giai đoạn 1990 - 1992 và hiện nay gấp đối so với mức trung bình trong khu vực Đông Nam Á.
Theo dữ liệu thống kê hàng năm tỉ lệ ứng dụng phân bón đã ổn định những năm gần đây, cho thấy chỉ ra 8 đất canh tác đang trở lên bão hòa với các ứng dụng phân bón và tính trung bình, tỷ lệ sử dụng phân bón cao hơn chưa chắc đã làm tăng sản lượng đáng kể.