Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ sinh học chuyên ngành Côn trùng học (mã số 9 42 0106) của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Huyên, được thực hiện tại Học viện Khoa học và Công nghệ thuộc Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phạm Hồng Thái (Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam) và GS. Trương Xuân Lam (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật), bảo vệ năm 2022. Đề tài tập trung nghiên cứu: "Nghiên cứu thành phần, phân bố của các loài ve sầu (Hemiptera: Cicadidae) ở vùng Đông Bắc và một số điểm phụ cận, Việt Nam".
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Họ Ve sầu (Cicadidae) trên thế giới có khoảng 3.000 loài đã được ghi nhận, phân bố tập trung ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới thuộc Đông Nam Á, Châu Phi, Châu Úc và Nam Mỹ. Tại Việt Nam, nghiên cứu trước đây đã xác nhận sự hiện diện của cả 3 phân họ gồm Cicadinae, Cicadettinae và Tettigadinae, trong đó Cicadinae chiếm số lượng loài lớn nhất.
Ve sầu có ý nghĩa sinh thái học đặc biệt do phần lớn thời gian vòng đời ấu trùng sống dưới lòng đất gắn chặt với hệ rễ thực vật rừng nhiệt đới, đồng thời là mắt xích thức ăn quan trọng cho chim và động vật có xương sống ăn côn trùng. Do chu kỳ phát triển kéo dài nhiều năm và phụ thuộc chặt chẽ vào độ che phủ rừng tự nhiên, tính đa dạng sinh học của ve sầu là chỉ thị sinh học có giá trị về tính toàn vẹn của sinh cảnh rừng. Ngoài ra, xác ve sầu lột (thuyền thoái) là một vị thuốc trong y học cổ truyền.
Về mặt địa lý tự nhiên, vùng Đông Bắc Việt Nam được ngăn cách với vùng Tây Bắc bởi ranh giới sông Hồng, mang địa hình đồi núi và khối núi đá vôi phức tạp (điển hình là cấu trúc địa hình đá vôi Cao Bằng và Bắc Sơn với độ cao trên 1.000 m so với mực nước biển, đỉnh cao hơn thung lũng xen kẽ từ 100–600 m). Mặc dù các nhóm động vật có xương sống và một số họ côn trùng đã được điều tra, khu hệ ve sầu Cicadidae tại vùng Đông Bắc vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ về phân loại học, địa sinh vật học và phân bố theo đai độ cao. Bộ sưu tập mẫu vật chuẩn phục vụ công tác định loại và bảo tồn đa dạng sinh học tại khu vực còn thiếu hụt.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định các mục tiêu cụ thể:
- Đánh giá sự đa dạng thành phần loài ve sầu thuộc họ Cicadidae ở vùng Đông Bắc và một số điểm phụ cận, Việt Nam.
- Cung cấp mẫu vật phục vụ việc xây dựng bộ mẫu đạt tiêu chuẩn quốc tế lưu trữ tại bảo tàng.
- Cung cấp dẫn liệu phân bố của các loài, góp phần thống kê khu hệ học ve sầu họ Cicadidae ở vùng Đông Bắc và phụ cận.
- Xây dựng khóa định loại hình thái đến cấp phân họ, tộc, giống và loài cho các loài ve sầu họ Cicadidae tại vùng nghiên cứu.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài ve sầu thuộc họ Cicadidae (bộ Cánh nửa Hemiptera, phân bộ Ve rầy Auchenorrhyncha).
- Phạm vi không gian: Thực hiện điều tra thực địa tại các khu rừng tự nhiên, Vườn quốc gia (VQG) và Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) thuộc vùng Đông Bắc và phụ cận, bao gồm: VQG Ba Bể (tỉnh Bắc Kạn), VQG Phia Oắc – Phia Đén (tỉnh Cao Bằng), VQG Tam Đảo (tỉnh Vĩnh Phúc), VQG Cát Bà (thành phố Hải Phòng), KBTTN Tây Yên Tử (tỉnh Bắc Giang), Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (tỉnh Vĩnh Phúc), núi Mẫu Sơn (tỉnh Lạng Sơn), KBTTN Đồng Sơn – Kỳ Thượng (tỉnh Quảng Ninh).
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu và mẫu vật thực địa được thu thập liên tục trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020, kết hợp rà soát các bộ mẫu lịch sử lưu trữ tại các bảo tàng trong và ngoài nước.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Nghiên cứu họ Ve sầu (Cicadidae) trên thế giới
Hệ thống phân loại họ Cicadidae trải qua lịch sử phát triển từ thế kỷ 18:
- Linnaeus (1758) lần đầu tiên mô tả loài Cicada orni thuộc giống Cicada, bộ Hemiptera, lớp Insecta.
- Latreille (1802) sắp xếp các loài giống Cicada vào họ Cicadariae.
- Westwood (1840) lần đầu tiên thiết lập danh pháp họ Cicadidae.
- Amyot & Serville (1843) xếp các loài ve sầu vào giống Cicadides, tộc Octicelli, họ Cicadidae.
- Distant (1906a) phân chia họ Cicadidae thành 3 phân họ (Cicadinae, Gaeaninae, Tibicininae) dựa trên đặc điểm màng che cơ quan phát thanh ở con đực.
- Metcalf (1963a) chia ve sầu thành 7 phân họ thuộc 2 họ (Cicadidae và Tibicinidae).
- Boulard (1976) chia ve sầu thành 5 họ (Cicadidae, Tibicinidae, Platypediidae, Plautilidae, Tettigarctidae) với 9 phân họ.
- Moulds (2005) tái cấu trúc hệ thống phân loại học họ Cicadidae thành 3 phân họ: Cicadinae, Cicadettinae và Tettigadinae.
- Sanborn (2013) xuất bản danh lục tổng hợp toàn cầu họ ve sầu trong giai đoạn 1981–2010, ghi nhận liên họ Cicadoidea gồm 2 họ, 4 họ phụ, 41 tộc, 413 giống và hơn 2.900 loài. Ngoại trừ 2 loài thuộc họ Tettigarctidae ở Australia, toàn bộ các loài còn lại thuộc họ Cicadidae.
Về địa lý động vật học, Metcalf (1963a) thống kê số loài ve sầu trên các vùng: Cổ Bắc (381 loài), Ethiopy (272 loài), Đông Phương (241 loài), Tân Nhiệt đới / Neotropical (224 loài), Ôxtrâylia (197 loài). Sanborn et al. (2007) ghi nhận tại Thái Lan có 137 loài (với 67 loài chỉ thu được ở Thái Lan, chiếm 45,2%).
Luận án tổng hợp bảng số liệu về số loài ve sầu ở Việt Nam và các quốc gia, vùng lãnh thổ lân cận:
| Quốc gia / Vùng lãnh thổ |
Số loài ghi nhận |
Nguồn tài liệu dẫn chứng |
| Trung Quốc |
205 |
Chou et al. (1997); Wei et al. (2009) |
| Ấn Độ |
189 |
Price et al. (2016) |
| Việt Nam |
137 |
Pham (2017) |
| Thái Lan |
137 |
Sanborn et al. (2007); Boulard (2009a,b) |
| Malaysia |
142 |
Moulton (1923) |
| Nhật Bản |
92 |
Kato (1961) |
| Myanmar |
81 |
Price et al. (2016) |
| Đài Loan |
60 |
Lee & Hayashi (2003a,b, 2004); Chen (2006); Chen & Shiao (2008) |
| Lào |
60 |
Lee (2014) |
| Nepal |
59 |
Sanborn & Shores (2015) |
| Guiana (thuộc Pháp) |
53 |
Sanborn (2011) |
| Đảo Luzon (Philippines) |
33 |
Lee (2016) |
| Pakistan |
29 |
Ahmed & Sanborn (2010) |
| Campuchia |
25 |
Lee (2010) |
| Sri Lanka |
22 |
Price et al. (2016) |
| Đảo Palawan (Philippines) |
18 |
Lee (2009) |
| Bhutan |
16 |
Price et al. (2016) |
| Hàn Quốc |
13 |
Lee (2008) |
Lịch sử nghiên cứu ve sầu tại Việt Nam
Nghiên cứu ve sầu tại Việt Nam được ghi nhận qua nhiều giai đoạn:
- Giai đoạn trước năm 1945:
- Distant (1888) công bố loài ve sầu đầu tiên của Việt Nam là Gaeana delinenda (mẫu chuẩn thu ở miền Nam, hiện lưu tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Luân Đôn - NHM; sau này Lee, 2008 chuyển sang giống Balinta).
- Từ 1904 đến 1920, Distant công bố 22 loài mới cho khoa học từ Việt Nam như Angamiana floridula, Purana pigmentata, Pomponia piceata, Platypleura harmandi, Platypleura nigrosignata, Inthaxara rex, Platylomia operculata, Meimuna subviridissima, Huechys tonkinensis, Scieroptera delineata, Terpnosia mesonotalis, Mogannia aliena, cùng giống mới Ayuthia (1919).
- Jacobi (1902, 1905) mô tả các loài mới: Mogannia caesar, Becquartina electa, Paratalainga distanti, Terpnosia posidonia, Abroma reducta, Macrosemia tonkiniana.
- Giai đoạn 1945 – 2000:
- Viện Bảo vệ thực vật (1967–1968) điều tra côn trùng miền Bắc, công bố danh sách 222 loài ve rầy, trong đó có 11 loài ve sầu.
- Mai Phú Quý và nnk (1981) ghi nhận 105 loài ve rầy ở Việt Nam, gồm 6 loài ve sầu.
- Hayashi (1987) tu chỉnh giống Cryptotympana, mô tả loài mới Cryptotympana nitidula từ Tây Nguyên.
- Giai đoạn từ 2000 đến nay:
- Phạm Hồng Thái và cộng sự công bố hàng loạt công trình phân loại học: tu chỉnh giống Dundubia, Pomponia, Platylomia (2004); khóa định loại giống Cryptotympana (2005a); khóa định loại tộc Huechysini bổ sung Huechys beata và Scieroptera formosana (2005b).
- Lee (2008) tổng hợp danh lục 111 loài thuộc 36 giống ở Việt Nam.
- Pham & Yang (2009) rà soát hệ thống ve sầu Việt Nam, ghi nhận 131 loài thuộc 45 giống, bổ sung 20 loài mới cho khu hệ và lần đầu ghi nhận phân họ Tettigadinae tại Việt Nam, đồng thời loại bỏ 8 loài do Metcalf (1963) nhầm lẫn địa điểm thu mẫu.
- Nhiều giống và loài mới tiếp tục được mô tả: Euterpnosia cucphuongensis (Pham et al., 2010), Karenia hoanglienensis (Pham & Yang, 2012), Semia spinosa (Pham, Hayashi & Yang, 2012), Chremistica sueuri (Pham & Constant, 2013a), Platylomia duffelsi (Pham & Constant, 2014c), Pomponia brevialata (Pham, Lee & Constant, 2015), giống mới Cochleopsaltria và loài mới Cochleopsaltria duffelsi (Pham & Constant, 2017), cùng loài mới Sinotympana caobangensis (Pham et al., 2019).
- Các công trình nghiên cứu phân bố địa lý: Phạm Hồng Thái & Tạ Huy Thịnh (2006) dọc đường Hồ Chí Minh (Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam) ghi nhận 34 loài/dạng loài; Phạm Hồng Thái (2013) tại Tây Nguyên ghi nhận 36 loài; Lưu Hoàng Yến & Phạm Hồng Thái (2017) tại VQG Hoàng Liên (Lào Cai) ghi nhận 29 loài.
Khoảng trống nghiên cứu
Dù đã có các công trình phân tán, khu hệ ve sầu vùng Đông Bắc Việt Nam – nơi có tính đa dạng địa hình và sinh cảnh núi đá vôi đặc thù – chưa từng được điều tra có hệ thống. Nhiều ghi nhận trước đây thiếu dữ liệu tọa độ, độ cao, thiếu khóa định loại toàn diện cho khu vực, và nhiều loài chưa có bộ mẫu chuẩn lưu trữ trong nước.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân loại
- Sử dụng khung phân loại phân bộ Ve rầy Auchenorrhyncha theo Forero (2008).
- Áp dụng hệ thống phân loại học họ Ve sầu (Cicadidae) theo Moulds (2005).
- Phân chia khu vực địa lý động vật học theo sơ đồ 6 vùng của Kuo et al. (2003).
Phương pháp thu mẫu thực địa
Luận án kết hợp 2 phương pháp thu mẫu chuẩn trong côn trùng học:
- Vợt côn trùng (vợt tay trên tuyến điều tra):
- Dụng cụ: Cán vợt hợp kim có thể điều chỉnh chiều dài từ 2 đến 8,5 m; vòng vợt bằng thép đường kính 50 cm; lưới vợt bằng vải màn tuyn.
- Quy trình: Di chuyển chậm trên tuyến điều tra, quan sát bề rộng dải tuyến từ 5–8,5 m ở cả hai bên, thu thập cá thể ve sầu ở các trạng thái hoạt động khác nhau (bay, đậu trên thân cây gỗ lớn, cành lá, dây leo, thảm tươi).
- Bẫy đèn (thu mẫu ban đêm):
- Cấu tạo: 02 bóng đèn cao áp công suất 250 W gắn trên khung bẫy căng tấm vải màn trắng kích thước 3 x 4 m, sử dụng nguồn điện từ máy phát điện.
- Vận hành: Đặt bẫy tại các khoảng rừng thoáng đãng, hướng nguồn sáng vào khu vực mục tiêu; thời gian chiếu sáng từ 18h00 đến 23h00 vào các đêm không trăng trong các tháng từ tháng 5 đến tháng 8 hằng năm (1–2 điểm đại diện cho mỗi vùng rừng điều tra).
Phương pháp xử lý và bảo quản mẫu vật
- Xử lý ban đầu:
- Mẫu lớn: Làm chết trong lọ có giấy tẩm dung dịch Ethyl acetat, làm khô sơ bộ ngoài thực địa.
- Mẫu nhỏ: Sau khi xử lý bằng Ethyl acetat, đặt vào đệm bông có gói chống ẩm Silica gel để giữ nguyên màu sắc cánh và cơ thể.
- Bảo quản khô: Cố định bằng ghim côn trùng chuyên dụng, sấy khô ở nhiệt độ 50°C trong vòng 48 giờ liên tục. Mẫu sau sấy được gắn nhãn định danh (etyket), xếp trong hộp gỗ chuyên dụng có bổ sung băng phiến để ngăn chặn côn trùng gây hại thuộc các họ Dermestidae, Tenebrionidae, Anobiidae. Lưu trữ trong phòng mẫu tiêu chuẩn ở điều kiện nhiệt độ 20–22°C và độ ẩm không khí 45–50%.
- Bảo quản ướt: Ngâm trong cồn Ethanol 70% đối với các mẫu dùng cho phân tích phân tử DNA.
- Nơi lưu trữ: Toàn bộ mẫu vật được lưu trữ tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (VNMN), có đối chiếu mẫu lưu tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Paris (MNHN), Luân Đôn (NHM), Thụy Điển (NHRS).
Phương pháp quan sát hình thái và định loại
- Đo đếm các chỉ số kích thước hình thái (chiều dài cơ thể, sải cánh, cấu trúc đầu, ngực, bụng, cánh trước, cánh sau).
- Quan sát cấu trúc giải phẫu bộ phận sinh dục đực (pygofer, aedeagus) dưới kính lúp soi nổi Leica EZ4 HD.
- Chụp ảnh tiêu bản hình thái lưng và bụng bằng máy ảnh kỹ thuật số Canon 50D SLR.
- So sánh hình thái với các bản mô tả gốc và khóa định loại của Chou et al. (1997), Moulds (2005), Pham & Yang (2009).
- Xây dựng hệ thống khóa định loại lưỡng phân (dichotomous keys) từ cấp phân họ, tộc, giống đến loài.
Phương pháp nghiên cứu phân bố và xử lý số liệu
- Lưu trữ cơ sở dữ liệu mẫu vật bằng phần mềm Microsoft Excel.
- Xây dựng bản đồ phân bố địa lý các giống và loài ve sầu bằng phần mềm chuyên dụng CFF (Barbier & Rasmont, 2000).
- Sử dụng thiết bị định vị vệ tinh GPS để ghi nhận tọa độ và độ cao thực tế tại điểm thu mẫu; kết hợp phân tích thông tin độ cao trên nhãn mẫu vật lịch sử.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
Chương này tổng kết toàn diện lịch sử nghiên cứu họ Cicadidae từ cấp độ toàn cầu đến khu vực Đông Nam Á và Việt Nam. Tác giả phân tích chi tiết các mốc phát triển hệ thống phân loại từ Linnaeus (1758) đến Moulds (2005) và Sanborn (2013), tổng hợp danh mục 18 quốc gia và vùng lãnh thổ về độ phong phú loài ve sầu. Đồng thời, chương 1 điểm lại các công trình điều tra khu hệ ve sầu tại Việt Nam từ thời kỳ Distant (1888), Jacobi (1902) đến các công bố gần đây của Phạm Hồng Thái, Pham & Yang (2009), Lee (2008), và các đợt khảo sát tại dãy Hoàng Liên, miền Trung và Tây Nguyên, làm nổi bật khoảng trống dữ liệu khu hệ ve sầu vùng Đông Bắc.
Chương 2: Đối tượng, địa điểm, phương pháp nghiên cứu và nội dung nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết về đối tượng họ Cicadidae, mô tả các địa điểm thu mẫu thực địa tại 8 khu vực trọng điểm của vùng Đông Bắc và phụ cận (Ba Bể, Phia Oắc - Phia Đén, Tam Đảo, Cát Bà, Tây Yên Tử, Mê Linh, Mẫu Sơn, Đồng Sơn - Kỳ Thượng). Chương này chuẩn hóa quy trình thu mẫu bằng vợt và bẫy đèn cao áp 250 W, quy trình bảo quản khô và ướt, kỹ thuật giải phẫu và chụp ảnh cơ quan sinh dục con đực (pygofer) trên kính lúp soi nổi Leica EZ4 HD, phương pháp dựng bản đồ phân bố bằng phần mềm CFF và phân chia đai độ cao bằng GPS. Bốn nội dung nghiên cứu chính được xác lập rõ ràng.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các kết quả cốt lõi của luận án:
1. Thành phần loài và tính đa dạng họ Cicadidae vùng Đông Bắc và phụ cận
Luận án đã xác định và lập danh lục cho 62 loài ve sầu thuộc họ Cicadidae tại vùng Đông Bắc và một số điểm phụ cận (Bảng 2 trong luận án). Mỗi loài được mô tả đầy đủ theo cấu trúc: tài liệu mô tả gốc và đồng danh, mẫu vật nghiên cứu, đặc điểm chẩn loại hình thái lưng/bụng/cơ quan sinh dục, kích thước cơ thể và sải cánh, phân bố tại Việt Nam và thế giới.
Khu hệ nghiên cứu có sự hiện diện của 2 phân họ:
- Phân họ Cicadinae: Con đực có màng che cơ quan phát thanh, pygofer phát triển, phần xa của pygofer tròn hoặc mở rộng thành thùy nhọn. Gồm 7 tộc đại diện:
- Tộc Platypleurini: Gồm giống Platypleura với các loài Platypleura hilpa Walker, 1850 (sải cánh 60 mm, thân dài 20 mm ở con đực) và Platypleura kaempferi (Fabricius, 1794).
- Tộc Cryptotympanini: Gồm các giống Chremistica (loài Chremistica sueuri), Salvazana (loài Salvazana mirabilis), Cryptotympana (các loài Cryptotympana recta, C. atrata, C. mandarina, C. holsti).
- Tộc Polyneurini: Gồm các giống Formotosena (Formotosena seebohmi).
- Tộc Gaeanini: Gồm các giống Gaeana (Gaeana maculata), Balinta (Balinta tenebricosa).
- Tộc Talaingini: Gồm các giống Becquartina (Becquartina electa, B. bleuzeni), Paratalainga (Paratalainga yunnanensis).
- Tộc Cicadini: Gồm các giống Terpnosia (Terpnosia posidonia, T. mawi), Pomponia (Pomponia linearis, P. piceata, P. backanensis), Purana (Purana pigmentata, P. parvituberculata), Meimuna (Meimuna subviridissima), Cochleopsaltria (Cochleopsaltria duffelsi), Haphsa (Haphsa scitula, H. karenensis), Platylomia (Platylomia bocki, P. operculata), Dundubia (Dundubia hainanensis), Tosena (Tosena melanoptera, T. splendida), Sinotympana (Sinotympana caobangensis), Hyalessa (Hyalessa maculaticollis).
- Tộc Moganniini: Gồm giống Mogannia (Mogannia effecta, M. cyanea, M. hebes, M. caesar, M. conica, M. saucia, M. obliqua), Nipponosemia (Nipponosemia guangxiensis).
- Phân họ Cicadettinae: Đại diện bởi các giống Abroma (Abroma reducta), Hea (Hea yunnanensis), Scolopita (Scolopita sp.), Huechys (Huechys beata, Huechys sanguinea), Scieroptera (Scieroptera splendidula, Scieroptera formosana).
Đặc biệt, loài mới cho khoa học được mô tả chi tiết là Sinotympana caobangensis Pham et al., 2019, kèm hình ảnh cấu trúc cơ thể mặt lưng, mặt bụng và hình ảnh giải phẫu cơ quan sinh dục con đực nhìn từ mặt bên và mặt bụng.
2. Khóa định loại các loài ve sầu ở vùng Đông Bắc và phụ cận
Luận án đã thiết lập hệ thống khóa định loại hình thái dạng lưỡng phân hoàn chỉnh từ cấp phân họ đến tộc, giống và 62 loài thuộc họ Cicadidae trong khu vực nghiên cứu.
3. Phân tích phân bố địa lý động vật học và đai độ cao
- Phân bố theo vùng địa lý: Luận án so sánh số lượng loài vùng Đông Bắc với cả nước (Bảng 3), phân tích phân bố theo 6 vùng địa lý động vật học (Bảng 5) và thống kê danh sách các loài chỉ mới bắt gặp tại vùng Đông Bắc mà chưa ghi nhận ở các vùng khác tại Việt Nam (Bảng 6).
- Phân bố theo độ cao: Tổng hợp độ cao phân bố chi tiết cho từng loài (Bảng 7) và tóm tắt phân bố theo các đai độ cao (Bảng 8). Các loài phân bố tập trung ở các sinh cảnh rừng tự nhiên còn nguyên vẹn ở vùng đồi núi cao, trong khi các loài nhỏ như Mogannia hay Huechys sanguinea có phổ phân bố rộng hơn ở các sinh cảnh bìa rừng và vùng đệm.
- Bản đồ phân bố: 27 bản đồ phân bố chi tiết từ Hình 63 đến Hình 89 (phần phụ lục) được xây dựng cho các giống: Platypleura, Chremistica, Salvazana, Cryptotympana, Formotosena, Gaeana, Balinta, Becquartina, Paratalainga, Terpnosia, Pomponia, Purana, Inthaxara, Meimuna, Haphsa, Platylomia, Dundubia, Tosena, Sinotympana, Hyalessa, Mogannia, Nipponosemia, Abroma, Hea, Scolopita, Huechys, Scieroptera.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt khoa học và phân loại học
- Lập danh lục khu hệ: Cung cấp danh lục đầy đủ 62 loài ve sầu thuộc họ Cicadidae tại vùng Đông Bắc và một số điểm phụ cận, chuẩn hóa tên khoa học hợp pháp, danh pháp đồng danh (synonyms), đặc điểm chẩn loại hình thái và vùng phân bố.
- Phát hiện và công bố taxon mới:
- Mô tả 01 loài mới cho khoa học: Sinotympana caobangensis Pham et al., 2019.
- Ghi nhận mới 03 giống cho khu hệ ve sầu Việt Nam.
- Ghi nhận mới 02 loài cho khu hệ ve sầu Việt Nam.
- Ghi nhận mới 02 loài cho vùng Đông Bắc.
- Xây dựng khóa định loại: Thiết lập hệ thống khóa định loại hình thái dạng lưỡng phân từ cấp phân họ, tộc, giống đến toàn bộ các loài ve sầu ghi nhận trong khu vực nghiên cứu.
- Dữ liệu phân bố và bản đồ học: Ứng dụng phần mềm CFF để lập 27 bản đồ phân bố địa lý cho các giống/loài ve sầu tại vùng Đông Bắc; phân tích đặc điểm phân bố theo 6 vùng địa lý động vật học và đai độ cao địa hình.
- Đóng góp mẫu vật: Bổ sung bộ mẫu vật ve sầu chuẩn hóa, lưu trữ tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (VNMN).
Kiến nghị và đề xuất
- Cần tiếp tục mở rộng các đợt điều tra thực địa tại các vùng núi đá vôi hiểm trở và các khu bảo tồn thiên nhiên khác thuộc vùng Đông Bắc để tiếp tục phát hiện các loài bổ sung.
- Ứng dụng các kết quả về thành phần loài và khóa định loại của luận án vào việc biên soạn bộ sách Động vật chí Việt Nam (phần họ Ve sầu Cicadidae).
- Tăng cường các biện pháp bảo vệ sinh cảnh rừng tự nhiên tại các VQG Ba Bể, Phia Oắc – Phia Đén, Tam Đảo, Tây Yên Tử nhằm bảo tồn các loài ve sầu đặc hữu.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào phương pháp so sánh hình thái học cổ điển và phân tích sinh thái phân bố không gian/độ cao; dữ liệu sinh học phân tử (DNA barcoding) chưa được áp dụng đồng loạt cho tất cả 62 loài. Một số loài hiếm chỉ thu được số lượng cá thể đực hoặc cái hạn chế.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Kết hợp phân tích sinh học phân tử và phát sinh chủng loại (phylogenetics) để làm rõ mối quan hệ tiến hóa giữa các taxon ve sầu vùng Đông Bắc với khu vực Nam Trung Quốc và Đông Nam Á.
- Nghiên cứu sâu hơn về tập tính phát âm (bioacoustics), chu kỳ sinh học ấu trùng dưới đất và cây chủ của từng nhóm loài phục vụ công tác giám sát đa dạng sinh học rừng.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Côn trùng học / Động vật học: Là tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp thu thập mẫu thực địa (vợt tuyến, bẫy đèn công suất cao), kỹ thuật giải phẫu cơ quan sinh dục con đực (pygofer) và phương pháp xây dựng khóa định loại lưỡng phân.
- Đối với giảng viên và cơ quan nghiên cứu: Cung cấp nguồn tư liệu phân loại học, danh lục và hình thái học phục vụ giảng dạy môn Côn trùng học chuyên ngành và phục vụ việc biên soạn phân họ Cicadinae trong Động vật chí Việt Nam.
- Đối với ban quản lý các VQG, KBTTN và cơ quan kiểm lâm: Cung cấp dữ liệu phân bố, bản đồ học CFF và đai độ cao của các loài ve sầu chỉ thị sinh thái, giúp đánh giá mức độ nguyên vẹn của thảm thực vật rừng tự nhiên tại các khu bảo tồn.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án ghi nhận tổng số bao nhiêu loài ve sầu họ Cicadidae tại vùng Đông Bắc và phụ cận?
Luận án ghi nhận và lập danh lục chi tiết cho 62 loài ve sầu thuộc họ Cicadidae, đại diện cho 2 phân họ là Cicadinae (7 tộc) và Cicadettinae.
2. Những phát hiện mới về phân loại học (loài mới, giống mới) của luận án là gì?
Luận án đã mô tả 01 loài mới cho khoa học (Sinotympana caobangensis Pham et al., 2019), ghi nhận mới 03 giống và 02 loài cho khu hệ ve sầu Việt Nam, đồng thời bổ sung 02 loài mới cho khu hệ vùng Đông Bắc.
3. Luận án sử dụng các phương pháp thu mẫu thực địa nào?
Tác giả sử dụng 2 phương pháp chính: (1) Vợt tay trên tuyến điều tra bằng vợt hợp kim dài 2–8,5 m, đường kính 50 cm; (2) Bẫy đèn cao áp sử dụng 2 bóng 250 W chiếu vào màn trắng 3x4 m chạy bằng máy phát điện, thu mẫu từ 18h00–23h00 vào các đêm không trăng từ tháng 5 đến tháng 8.
4. Khung phân loại học và phần mềm nào được sử dụng để định danh và xây dựng bản đồ phân bố?
Luận án áp dụng hệ thống phân loại học của Moulds (2005), phân loại phân bộ Ve rầy theo Forero (2008), phân chia vùng địa lý động vật học theo Kuo et al. (2003), và sử dụng phần mềm CFF (Barbier & Rasmont, 2000) để xây dựng 27 bản đồ phân bố địa lý.
5. Mẫu vật nghiên cứu của luận án được bảo quản và lưu trữ ở đâu?
Mẫu vật sau khi làm chết bằng Ethyl acetat được sấy khô ở 50°C trong 48 giờ hoặc làm khô bằng Silica gel, lưu trữ trong hộp gỗ chống mối mọt ở nhiệt độ 20–22°C, độ ẩm 45–50% tại Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (VNMN).
Kết luận
Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Huyên là công trình nghiên cứu hệ thống về thành phần loài và phân bố của họ Ve sầu (Cicadidae) tại vùng Đông Bắc và một số điểm phụ cận, Việt Nam. Công trình đã xác định 62 loài, mô tả 01 loài mới cho khoa học (Sinotympana caobangensis), ghi nhận mới 3 giống và 2 loài cho khu hệ ve sầu Việt Nam, cùng 2 loài cho vùng Đông Bắc. Hệ thống khóa định loại lưỡng phân từ phân họ đến loài cùng 27 bản đồ phân bố CFF và dữ liệu đai độ cao là nguồn tư liệu khoa học quan trọng phục vụ công tác bảo tồn đa dạng sinh học và biên soạn Động vật chí Việt Nam.