Luận án tiến sĩ nghiên cứu thành phần loài và đặc trưng phân bố của giáp xác nước ngọt crustacea ở khu vực vườn quốc gia phong nha kẻ bàng

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thành phần loài và đặc trưng phân bố của giáp xác nước ngọt Crustacea tại Vườn Quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng.

Chuyên ngành

Động vật học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2018

220
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Các nghiên cứu về giáp xác nước ngọt ở trên thế giới

1.2. Các nghiên cứu về phân loại các nhóm giáp xác nước ngọt

1.3. Giáp xác chân chèo nước ngọt Copepoda

1.4. Giáp xác râu chẻ râu ngành (Cladocera)

1.5. Giáp xác có vỏ Ostracoda

1.6. Các nghiên cứu về môi trường sống và sự phân chia các nhóm loài sinh thái sống trong thủy vực vùng núi đá vôi

1.6.1. Các thủy vực vùng núi đá vôi

1.6.2. Sự phân chia các nhóm loài sinh thái sống trong thủy vực ngầm

1.6.3. Thành phần loài giáp xác các thủy vực nước ngọt vùng núi đá vôi

1.7. Các nghiên cứu về giáp xác nước ngọt ở Việt Nam

1.7.1. Các nghiên cứu về thành phần phân loại học

1.7.2. Giáp xác chân chèo Copepoda và râu chẻ Cladocera

1.7.3. Các nghiên cứu về giáp xác nước ngọt ở vùng núi đá vôi Việt Nam

1.8. Các nghiên cứu về giáp xác nước ngọt ở vùng núi đá vôi Phong Nha - Kẻ Bàng

1.8.1. Vị trí địa lý

1.8.2. Địa hình, địa mạo

1.8.3. Đặc điểm về địa chất

1.8.4. Đặc điểm khí hậu

1.8.5. Hệ thống hang động vùng núi đá vôi Phong Nha-Kẻ Bàng

1.8.6. Các loại hình thủy vực ở vùng núi đá vôi Phong Nha-Kẻ Bàng

1.8.6.1. Hệ thống sông ngòi
1.8.6.2. Thủy vực ngầm trong hang động

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM, THỜI GIAN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

2.2. Địa điểm nghiên cứu

2.3. Thời gian nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Cách tiếp cận

2.4.2. Tiếp cận về hình thái học

2.4.3. Tiếp cận về sinh thái cảnh quan và phân bố

2.4.4. Tiếp cận hệ sinh thái

2.4.5. Phương pháp thu mẫu ngoài thực địa

2.4.6. Phương pháp phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Đặc điểm thành phần loài giáp xác nước ngọt ở khu vực nghiên cứu

3.1.1. Giáp xác chân chèo (Copepoda)

3.1.2. Giáp xác râu chẻ (Cladocera)

3.1.3. Giáp xác có vỏ Ostracoda

3.1.4. Bathynellacea và Themosbaenacea

3.1.5. Amphipoda và Isopoda

3.2. Đặc điểm phân bố của các loài giáp xác ở khu vực nghiên cứu

3.2.1. Phân bố theo loại hình thủy vực

3.2.2. Các thủy vực ngầm trong hang động

3.2.3. Các thủy vực trên mặt đất (lộ thiên)

3.2.4. Phân bố giữa nhóm giáp xác sống ở tầng nổi và tầng đáy

3.2.5. Phân bố theo mùa

3.2.6. Phân bố và mật độ giáp xác nước ngọt

3.2.6.1. Nhóm giáp xác sống nổi
3.2.6.2. Nhóm giáp xác sống đáy

3.3. Mức độ đa dạng sinh học quần xã giáp xác nước ngọt

3.3.1. Nhóm giáp xác sống nổi

3.3.1.1. Chỉ số phong phú Margalef (d)
3.3.1.2. Chỉ số đa dạng Shannon-Weiner H’

3.3.2. Nhóm giáp xác sống đáy

3.3.2.1. Chỉ số phong phú Margalef (d)
3.3.2.2. Chỉ số đa dạng Shannon-Weiner H’

3.4. Mối tương quan giữa quần xã giáp xác nước ngọt và các yếu tố môi trường

3.4.1. Chất lượng môi trường nước ở các thủy vực vùng núi đá vôi khu vực VQG Phong Nha – Kẻ Bàng

3.4.1.1. Độ cứng của nước
3.4.1.2. Hàm lượng oxy hòa tan (DO)
3.4.1.3. Muối dinh dưỡng nitơ và phốt pho

3.4.2. Mối tương quan giữa các yếu tố môi trường và các chỉ số sinh học của quần xã giáp xác

3.5. Đề xuất các giải pháp bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên giáp xác nước ngọt tại khu vực nghiên cứu

3.5.1. Các áp lực tới hệ sinh thái thủy vực và quần xã giáp xác ở PN-KB

3.5.1.1. Phát triển du lịch quá nhanh ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
3.5.1.2. Khai thác quá mức và bất hợp pháp thủy sản
3.5.1.3. Hệ sinh thái thủy vực ngầm và quần xã sinh vật trong hang động chưa được chú ý bảo tồn

3.5.2. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học hệ sinh thái và quần xã giáp xác trong hang động ở Phong Nha - Kẻ Bàng

3.5.3. Quy hoạch phát triển du lịch bền vững ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng

3.5.4. Tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng trong bảo tồn đa dạng sinh học

3.5.5. Xây dựng ý thức bảo vệ môi trường cho cộng đồng địa phương và du khách

3.5.6. Xây dựng các đề án nghiên cứu khoa học và quan trắc đa dạng sinh học ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng

3.5.7. Kiểm soát và phòng trừ các loài sinh vật ngoại lai xâm hại

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Thành phần loài giáp xác nước ngọt tại Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng

Nghiên cứu đã xác định thành phần loài của giáp xác nước ngọt tại Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng, bao gồm các nhóm chính như Copepoda, Cladocera, Ostracoda, Amphipoda, và Isopoda. Kết quả cho thấy sự đa dạng cao về loài, với nhiều loài đặc hữu và mới được phát hiện. Các loài này phân bố chủ yếu trong các hệ sinh thái nước ngọt như sông, suối, hồ và đặc biệt là các thủy vực ngầm trong hang động. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, môi trường nước ngọt tại khu vực này có điều kiện lý tưởng cho sự phát triển của các loài động vật giáp xác.

1.1. Đặc điểm sinh học của giáp xác nước ngọt

Các loài giáp xác nước ngọt tại Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàngđặc điểm sinh học đa dạng, phù hợp với môi trường sống đặc thù. Nhóm CopepodaCladocera chiếm ưu thế về số lượng loài và mật độ cá thể. Các loài này thường sống ở tầng nổi, đóng vai trò quan trọng trong chuỗi thức ăn. Nhóm OstracodaAmphipoda lại thích nghi với môi trường đáy, đặc biệt là trong các thủy vực ngầm. Nghiên cứu cũng ghi nhận sự xuất hiện của các loài mới, góp phần làm phong phú thêm đa dạng sinh học của khu vực.

1.2. Phân bố giáp xác nước ngọt theo loại hình thủy vực

Sự phân bố giáp xác tại Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng phụ thuộc chặt chẽ vào loại hình thủy vực. Các loài giáp xác nước ngọt được tìm thấy nhiều nhất trong các thủy vực ngầm như hang động, nơi có điều kiện môi trường ổn định và ít bị tác động bởi con người. Trong khi đó, các thủy vực lộ thiên như sông, suối cũng có sự hiện diện của nhiều loài, nhưng mật độ thấp hơn. Nghiên cứu còn chỉ ra sự biến động về phân bố giáp xác theo mùa, với mật độ cao hơn vào mùa mưa do nguồn thức ăn dồi dào.

II. Mối quan hệ giữa giáp xác nước ngọt và môi trường

Nghiên cứu đã phân tích mối quan hệ giữa giáp xác nước ngọt và các yếu tố môi trường nước ngọt tại Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng. Các yếu tố như nhiệt độ, độ pH, hàm lượng oxy hòa tan (DO), và nồng độ các chất dinh dưỡng (NH4+, PO43-) có ảnh hưởng đáng kể đến sự phân bố và mật độ của các loài động vật giáp xác. Kết quả cho thấy, các thủy vực ngầm có điều kiện môi trường ổn định hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các loài giáp xác đặc hữu.

2.1. Ảnh hưởng của chất lượng nước đến giáp xác nước ngọt

Chất lượng môi trường nước ngọt là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của giáp xác nước ngọt. Nghiên cứu chỉ ra rằng, các thủy vực có độ pH trung tính và hàm lượng oxy hòa tan cao thường có mật độ giáp xác cao hơn. Ngược lại, sự gia tăng nồng độ các chất dinh dưỡng như NH4+ và PO43- có thể dẫn đến hiện tượng phú dưỡng, ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái nước ngọt và các loài động vật giáp xác.

2.2. Biến động mật độ giáp xác theo mùa

Mật độ giáp xác nước ngọt tại Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng có sự biến động rõ rệt theo mùa. Mùa mưa, với lượng nước dồi dào và nguồn thức ăn phong phú, là thời điểm mật độ giáp xác đạt cao nhất. Ngược lại, vào mùa khô, sự suy giảm nguồn nước và thức ăn khiến mật độ các loài giáp xác giảm đáng kể. Nghiên cứu cũng ghi nhận sự thích nghi của các loài giáp xác với điều kiện môi trường khắc nghiệt, đặc biệt là trong các thủy vực ngầm.

III. Bảo tồn đa dạng sinh học giáp xác nước ngọt

Nghiên cứu đã đề xuất các giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học của giáp xác nước ngọt tại Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng. Các giải pháp bao gồm quản lý chặt chẽ các hoạt động du lịch, kiểm soát khai thác thủy sản bất hợp pháp, và tăng cường nghiên cứu khoa học về hệ sinh thái nước ngọt. Đặc biệt, cần chú trọng bảo vệ các thủy vực ngầm trong hang động, nơi có nhiều loài giáp xác đặc hữu và quý hiếm.

3.1. Giải pháp quản lý du lịch bền vững

Phát triển du lịch bền vững là một trong những giải pháp quan trọng để bảo tồn đa dạng sinh học tại Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng. Nghiên cứu đề xuất việc hạn chế số lượng khách tham quan các thủy vực ngầm, đồng thời tăng cường giáo dục nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường cho du khách. Các hoạt động du lịch cần được quy hoạch hợp lý để tránh gây ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái nước ngọt và các loài giáp xác.

3.2. Tăng cường nghiên cứu và giám sát

Việc tăng cường nghiên cứu sinh thái và giám sát định kỳ các thủy vực tại Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng là cần thiết để đánh giá tình trạng đa dạng sinh học của giáp xác nước ngọt. Nghiên cứu đề xuất xây dựng các chương trình quan trắc môi trường và sinh vật, đặc biệt là trong các thủy vực ngầm. Điều này sẽ giúp phát hiện sớm các nguy cơ đe dọa và đưa ra các biện pháp bảo vệ kịp thời.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu thành phần loài và đặc trưng phân bố của giáp xác nước ngọt crustacea ở khu vực vườn quốc gia phong nha kẻ bàng

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tổng quan: 28 trang. Chương 2: Đối tượng, địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu: 14 trang. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận: 78 trang. Kết luận và kiến nghị: 2 trang 4 CHƢƠNG I.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các nghiên cứu v giáp xác nƣớc ngọt ở trên th giới 1. C c nghiên cứu v phân i học nh gi p c nước ngọt Những nghiên cứu về phân loại học giáp xác nước ngọt đã được tiến hành từ khá sớm ở trên thế giới. Trong tổng số khoảng 11.990 loài giáp xác đã biết cho đến nay thì bộ giáp xác mười chân (Decapoda) có khoảng 1.900 loài, phân lớp giáp xác chân chèo (Copepoda) có khoảng 2.800 loài, phân bộ râu chẻ (Cladocera) có khoảng 620 loài, lớp có vỏ (Ostracoda) có khoảng 2.000 loài, bộ chân đều (Isopoda) có khoảng 950 loài, bộ chân khác (Amphipoda) có khoảng 1.870 loài và tổng bộ Syncarida (khoảng 240 loài) [8,9,10,11,12].

Trong thời gian gần đây, nhiều loài mới trong nhóm giáp xác nước ngọt vẫn được các tác giả tiếp tục nghiên cứu và ghi nhận.Giáp xác chân ch o n c ngọt (Copepoda) Các tác giả Müller (1776), Jurine (1820), Milne-Edwards (1840), Brady (1883), Giesbrecht (1892) đã có các nghiên cứu về phân loại học đối với nhóm giáp xác chân chèo nước ngọt (Copepoda) dựa trên các đặc điểm hình thái. Hệ thống phân loại của Sars (1903-1913) về cơ bản vẫn được sử dụng trong thời gian dài sau đó [13,14,15,16]. Trong nửa cuối thế kỷ XX, đã bổ sung nhiều taxon mới về phân loại học của nhóm này. Hệ thống phân loại giáp xác của Boxshall & Halsey (2004) được hầu hết các nhà nghiên cứu chấp nhận và sử dụng rộng rãi, theo đó Copepoda được chia làm 9 bộ, các loài sống tự do ở nước ngọt hầu hết nằm trong 3 bộ: Calanoida, Cyclopoida và Harpacticoida [17].

Theo Boxshall & Halsey (2004), Boxshall & Defaye (2008), hiện đã ghi nhận khoảng 2.800 loài giáp xác Copepoda sống ở các thuỷ vực nước ngọt nội địa trên thế giới [8,17]. Các nghiên cứu về thành phần loài giáp xác Copepoda nước ngọt đã được tiến hành ở hầu hết các nước thuộc khu vực Đông Nam Á. Ở Mã lai và In-đô-nê-xia, có các công trình của Douwe (1901, 1907), Daday (1906), Chappuis (1928, 1931, 1933) ở Java và Sumatra; Fernando (1978), Fernando và Ponyi (1981) về khu hệ Copepoda ở Mã lai. Brehm (1951, 1954), Lindberg (1952) nghiên cứu về thành phần loài ở Căm Pu Chia.

Trong thời gian gần đây thành phần 5 loài Copepoda nước ngọt của Thái Lan được điều tra kỹ lưỡng từ các nghiên cứu của các tác giả Boonsom (1984), Dumont và Reddy (1994), Dumont et al. (1996); Reddy et al. (1998, 2000); Sanoamuang (1999, 2001a, 2001b); Sanoamuang và Athibai (2002), Chullasorn et al. Trong số đó có khoảng 10 loài Copepoda được mô tả ở Thái Lan [8] Ở Trung Quốc, Shen và Tai (1962, 1963, 1964) có các nghiên cứu về giáp xác Copepoda ở các hồ và sông lớn, trong đó có nhiều loài và giống mới cho khoa học đã được mô tả.

Theo Shen et al (1979) có 206 loài giáp xác Copepoda trong các thuỷ vực nước ngọt nội địa Trung Quốc [23,24,25,26,27]. Giáp xác râu ch r u ng nh (Diplostraca: Cladocera) Giáp xác râu chẻ (Diplostraca: Cladocera) được các tác giả Müller (1776, 1777, 1785), De Geer (1778) nghiên cứu với một số giống đầu tiên được công bố. Theo đó, các tác giả dùng các tên gọi khác nhau và không phân biệt với các nhóm giáp xác nhỏ khác (Conchostraca, Ostracoda, Copepoda). Năm 1829, Latreille đề xuất bộ Cladocera vào cùng với một hệ thống phân loại với 10 bộ khác của lớp giáp xác Crustacea.

Tuy nhiên, vị trí phân loại của phân bộ Cladocera thay đổi rất nhiều trong hệ thống chung của lớp giáp xác cũng như các taxon trong bộ này bởi các công trình nghiên cứu về hệ thống phân loại của nhiều tác giả như Milne-Edwards (1840); Dana, (1853); Sars (1861, 1862); Claus (1868); Richard (1895, 1896); Lilljeborg (1901) đã mô tả và vẽ hình minh hoạ của 102 loài cùng với một hệ thống các taxon trong bộ Cladocera [28]. Hệ thống của Lilljeborg đã được sử dụng rộng rãi cho các nghiên cứu sau này. Tuy vậy, hạn chế của hệ thống phân loại này và nhiều công trình về sau là còn có sự nhầm lẫn về vị trí phân loại của một số taxon trong lớp giáp xác chân mang (Branchiopoda). Dưới sự hỗ trợ của kỹ thuật của kính hiển vi điện tử quyét (SEM) và phân tích ADN, các tác giả như Frey (1973, 1980, 1982, 1987, 1991, 1995), Fryer (1963, 1968, 1974, 1987), Olesen (1996, 2000) đã có những phân tích sâu hơn và làm sáng tỏ mối quan hệ phát sinh chủng loại của các taxon trong nhóm Branchiopoda.

Hiện nay, giáp xác râu chẻ phân bộ Cladocera được xếp trong bộ Diplostraca cùng với các phân bộ khác là Laevicaudata, Spinicaudata và Cyclestherida thuộc phân lớp giáp xác chân lá (Phyllopoda), trong lớp giáp xác chân mang (Branchiopoda). 6 Theo Martin & Davis (2001), cho đến nay đã biết khoảng 620 loài giáp xác râu chẻ (Cladocera) sống ở nước ngọt xếp vào trong 4 thứ bộ: Anomopoda (537 loài), Ctenopoda (50 loài), Haplopoda (1 loài) và Onychopoda (32 loài) [29]. Song song với sự hoàn thiện về hệ thống phân loại, những nghiên cứu về thành phần loài của khu hệ ở các nước và khu vực khác nhau trên toàn thế giới gần như cũng được tiến hành đồng thời như ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Châu Phi. Khu vực Châu Á được nghiên cứu muộn hơn, Đông Nam Á có các công trình tiêu biểu như: ở In-đô-nê-sia với công trình của các tác giả Richard (1891, 1895, 1896), Stingelin (1905), Grochmalicki (1915), Johnson (1956) được nghiên cứu ở các đảo Java, Sumatra.

Ở Ma-lay-sia, có các công trình nghiên cứu của các tác giả Johnson (1962, 1963, 1965, 1975), Fernando (1977, 1980), Idris (1983). Ở Thái Lan có các nghiên cứu của Boonsom (1984), Pholpunthin (1997), Sirimongkonthaworn (1997), Sanoamuang (1998), Pipatcharoenchai (2001), Sanoamuang et al. (2001), Maiphae et al. Ở Trung Quốc, Chiang và Du (1979) đã thống kê được 136 loài trong 45 giống và 10 họ.

Cho đến nay, ở khu vực Đông Nam Á đã có những nghiên cứu tương đối đầy đủ về thành phần loài giáp xác râu chẻ (Cladocera). Trong đó, thành phần loài phản ảnh tính chất phân bố rộng của nhóm giáp xác này với các đặc điểm chủ yếu là các loài ở vùng nhiệt đới và có phân bố rộng, các nhóm loài đặc hữu chiếm tỷ lệ rất thấp. Giáp xác c v (Ostracoda) Những năm 1777 và 1778, Müller đã có những nghiên cứu về phân loại học nhóm giáp xác Ostracoda: ông mô tả các loài trong giống Cypris và xếp chung với một số nhóm giáp xác nhỏ khác. Năm 1802, Latreille đề xuất thuật ngữ Ostracoda và được xem như một bộ ("Ostrachode") bao gồm cả một số giống trong nhóm Cladocera và Copepoda.

Sau đó, các tác giả Milne-Edwards (1840), Claus (1868) tách các nhóm này ra và thành lập các bộ riêng xếp trong Branchiopoda. Năm 1866, Sars chia bộ Ostracoda thành 4 nhóm: Podocopa, Myodocopa, Cladocopa và Platycopa. Müller (1900) xem 4 nhóm này là 4 phân bộ trong bộ Ostracoda. Hệ thống phân loại này gần như được duy trì trong suốt thời gian dài sau đấy, mặc dù có sự thay đổi của nhiều taxon bậc thấp hơn.

Năm 1961, Moore nâng 7 bộ Ostracoda thành một phân lớp trong lớp chân kìm (Maxillopoda) và chia làm 5 bộ Archaeocopida, Leperditicopida, Palaeocopida, Podocopida, Myodocopida. Năm 1982, Cohen tách phân lớp Ostracoda khỏi lớp Maxillopoda và nâng lên thành lớp giáp xác có vỏ (Ostracoda) gồm Myodocopa, Halocyprida, Platycopida và Podocopida xếp trong 2 phân lớp Myodocopa và Podocopa [30]. Theo thống kê của Martens et al.000 loài giáp xác Ostracoda nước ngọt nội địa đã được ghi nhận trên toàn thế giới, hầu hết chúng có đời sống tự do, chỉ có khoảng 12 loài sống bán ký sinh, tất cả đều thuộc bộ Podocopida [11]. Vùng Đông Phương (Oriental) có 199 loài trong 6 họ.

Trong đó, họ Cyprididae có số loài nhiều nhất với 154 loài. Khu vực Đông Nam Á có các nghiên cứu của Moniez (1892), Sars (1903), Tressler (1937) đã được kiểm tra bởi Victor & Fernando (1982). Các nghiên cứu của Victor & Fernando (1979, 1980, 1981, 1982), tập trung chủ yếu vào các đảo của Mã lai và In-đô-nê-sia. Theo Fernando (1982), có 87 loài thuộc 26 giống được ghi nhận ở Mã lai, In-đô-nê-sia và Phi-líp-pin.

Theo Martens & Savatenalinton (2010), đã có những nghiên cứu khá đầy đủ về thành phần loài của phân họ Cypricercinae và mô tả 6 loài mới cho khu vực này [31]. Tôm, cua (Decapoda) Từ những năm giữa thế kỷ XIX, những nghiên cứu về tôm, cua nước ngọt thế giới đã được tiến hành các nước ở Châu Âu, và Châu Á. Theo hệ thống phân loại trước đây, bộ mười chân (Decapoda) vẫn tồn tại bậc phân chia Natantia bao gồm nhóm tôm do Boas đề xuất từ 1880, theo đó ông chia bộ Decapoda thành hai phân bộ Natantia (tôm) và Reptantia (cua). Hệ thống này được hầu hết các tác giả thừa nhận về sau này, chỉ thay đổi ít nhiều về các thành phần của nhóm Natantia.

Năm 1963, Burkenroad chia lại bộ Decapoda thành 2 phân bộ mới: Dendrobranchiata (= Penaeidea) và Pleocyemata, bao gồm các nhóm còn lại của bộ Decapoda, số này được phân thành 2 liên nhóm (supersection) hoặc thứ bộ (infraorder) Natantia và Reptantia. Burkenroad (1981) xem xét lại cách phân chia nói trên và phân chia lại bộ Decapoda thành 4 phân bộ: Dendrobranchiata (= Penaeidea), Stenopodidea, Caridea và Reptantia. Cách phân chia mới này được nhiều tác giả sau này tiếp thu với ít nhiều thay đổi, theo xu hướng chia bộ Decapoda thành 3 phân bộ lớn: 8 Dendrobranchiata (= Penaeidea), Natantia (bao gồm các nhóm tôm khác ngoài Penaeidea) và Reptantia (Cua) [32]. Theo De Grave et al.500 loài tôm nhóm Caridea thuộc 31 họ, sống ở cả nước mặn, nước lợ và nước ngọt.

Trong đó, có khoảng 655 loài nước ngọt. Tôm Caridea nước ngọt thuộc 8 họ và phân họ, trong đó 2 họ Atyidae và Palaemonidae chiếm số loài đông nhất. Họ tôm diu (Atyidae) có 359 loài, họ tôm càng (Palaemonidae) với các giống phổ biến như Macrobrachium, Palaemon, Exopalaemon, Palaemonetes. Theo De Grave et al.

Theo các tác giả Ng et al. (2008), Yeo et al. Theo Cumberlidge et al.476 loài cua nước ngọt đã biết trên thế giới được phân bố ở mọi vùng địa lý động vật, trong đó có 1.306 loài thuần tuý nước ngọt. Hai họ có thành phần loài đông nhất là Potamidae (505 loài và 95 giống) và họ Gecarcinucidae (344 loài và 59 giống , các loài này chủ yếu tập trung ở vùng Đông Nam Á và Nam Á [9].

Theo Cumberlidge et al. Các nước khác, tuy việc thống kê cho tới nay còn chưa thật đầy đủ song cũng đã ghi nhận được số loài khá lớn, như: In-đô-nê-xia (83 loài), Phi-líp-pin (42 loài), Việt Nam (40 loài) [9].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu thành phần loài và phân bố giáp xác nước ngọt tại Vườn Quốc Gia Phong Nha Kẻ Bàng là một tài liệu quan trọng, cung cấp cái nhìn sâu sắc về đa dạng sinh học của các loài giáp xác nước ngọt trong khu vực này. Nghiên cứu không chỉ xác định thành phần loài mà còn phân tích sự phân bố của chúng, góp phần vào việc bảo tồn và quản lý tài nguyên thiên nhiên. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà khoa học, nhà quản lý môi trường và những ai quan tâm đến sinh thái học.

Để mở rộng kiến thức về đa dạng sinh học, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ sinh học nghiên cứu thành phần loài mối ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, hoặc Luận văn đánh giá tính đa dạng sinh học thực vật rừng ngập mặn tại Tiên Yên, Quảng Ninh. Nếu quan tâm đến các loài ngoại lai, Luận án tiến sĩ về đặc điểm và phân bố của giống cá ngoại lai Pterygoplichthys tại Việt Nam sẽ là tài liệu phù hợp. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về chủ đề này.