Luận án tiến sĩ hóa học nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt sính sinh học của hai loài ngọc cẩu balanophora laxiflora hemsl và vú bò ficus hirta vahl

Luận án tiến sĩ hóa học khám phá thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của ngọc cẩu Balanophora laxiflora Hemsl và vú bò Ficus hirta Vahl.

Chuyên ngành

Hóa học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2018

139
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu về loài ngọc cẩu (Balanophora laxiflora Hemsl.)

1.2. Loài ngọc cẩu Balanophora

1.3. Đặc điểm thực vật loài ngọc cẩu

1.4. Công dụng chữa bệnh của loài ngọc cẩu

1.5. Tổng quan của loài ngọc cẩu

1.6. Thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của các loài thuộc chi Ficus

1.7. Các nghiên cứu quốc tế

1.8. Các nghiên cứu trong nước

1.9. Mô tả thực vật

1.10. Thành phần hóa học loài vú bò

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ THỰC NGHIỆM

2.1. Mẫu nghiên cứu

2.2. Mẫu cây ngọc cẩu

2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.4. Phương pháp chiết mẫu thực vật

2.5. Phương pháp xác định cấu trúc

2.6. Phương pháp thử hoạt tính sinh học

2.7. Phương pháp nghiên cứu hoạt tính gây độc tế bào

2.8. Phương pháp gây độc tế bào thực hiện tại Đại học Y Perugia - Đại học tổng hợp Perugia nước Cộng hòa Italy

2.9. Phương pháp thử nghiệm hoạt tính ức chế nitric oxide (NOs inhibition) thực hiện tại Viện Hóa học – Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

2.10. Chiết tách và tinh chế các hợp chất từ hai loài nghiên cứu

2.10.1. Phân lập các hợp chất từ loài ngọc cẩu

2.10.2. Chiết tách, tạo cao chiết

2.10.3. Phân lập các hợp chất từ cặn chiết dichloromethane

2.10.4. Phân lập các hợp chất từ cặn chiết ethyl acetate

2.10.5. Phân lập các hợp chất từ cặn chiết methanol

2.10.6. Phân lập các hợp chất từ rễ cây vú bò

2.10.7. Chiết mẫu, tạo cao chiết

2.10.8. Thử hoạt tính các cao chiết

2.10.9. Phân lập các hợp chất từ cao ethyl acetate

2.10.10. Phân lập các hợp chất từ cao n-butanol

3. KẾT QUẢ THẢO LUẬN

3.1. Cây ngọc cẩu

3.2. Hợp chất BL-1 (4-Hydroxy-3-methoxycinnamandehid)

3.3. Hợp chất BL-2 (methyl 4-hydroxycinnamate)

3.4. Hợp chất BL-3 (pinoresinol)

3.5. Hợp chất BL-4 (methyl 3,4-dihydroxycinnamate)

3.6. Hợp chất BL-5 (7-hydroxy-6-methoxycoumarin), scopoletin

3.7. Hợp chất BL-6 (+)-lariciresinol

3.8. Hợp chất BL-7 (+)-isolariciresinol

3.9. Hợp chất BL-8 (quercetin)

3.10. Hợp chất BL-9 (methyl gallate)

3.11. Hợp chất BL-10 (chất mới) - balanochalcone

3.12. Hợp chất BL-11 (β-hydroxydihydrochalcone)

3.13. Hợp chất BL-12, dimethyl 6,9,10-trihydroxybenzo[kl]xanthene-1,2-dicarboxylate

3.14. Hợp chất BL-13 (p-cumaric acid)

3.15. Hợp chất BL-14 (isolariciresinol 4-O-β-D-glucopyranoside)

3.16. Hợp chất BL-15 (Daucosterol)

3.17. Hợp chất BL-16 (5-Hydroxymethylfurfural)

3.18. Hợp chất BL-17 (methyl β-D-glucopyranoside)

3.19. Hợp chất BL-18 (methyl 4-O-β-D-glucopyranosylconiferyl ether)

3.20. Hợp chất BL-19, 4-hydroxy-3,5-dimethoxybenzoyl glucopyranoside

3.21. Hợp chất BL-20 (lariciresinol 4-O-β-D-glucopyranoside)

3.22. Các hợp chất phân lập từ loài vú bò

3.22.1. Hợp chất F-2 (umbelliferon) 7-hydroxycoumarin

3.23. Kết quả thử hoạt tính sinh học

3.24. Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào loài ngọc cẩu

3.25. Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào thực hiện thử nghiệm tại Viện Hóa học

3.26. Kết quả thử hoạt tính gây độc tế bào thực hiện thử nghiệm ở Đại học Y Perugia - Đại học tổng hợp Perugia nước Cộng hòa Italy

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Thành phần hóa học cây ngọc cẩu

4.2. Thành phần hóa học cây vú bò

4.3. Đánh giá bước đầu về hoạt tính sinh học

4.3.1. Hoạt tính sinh học loài ngọc cẩu Balanophora laxiflora

4.3.2. Hoạt tính sinh học loài vú bò Ficus hirta

DANH MỤC CÁC CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ

Tóm tắt

I. Giới thiệu về loài ngọc cẩu Balanophora laxiflora

Ngọc cẩu (Balanophora laxiflora) là một loài thực vật ký sinh thuộc họ Balanophoraceae. Loài này phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, đặc biệt là ở Châu Á. Ngọc cẩu thường sống ký sinh trên rễ các cây lá rộng thường xanh, đặc biệt là trong các họ Leguminosae, Ericaceae, Urticaceae, và Fagaceae. Thành phần hóa học của ngọc cẩu rất đa dạng, bao gồm các hợp chất lignan, phenylpropanoid, tanin, flavonoid, và terpenoid. Các hợp chất này có nhiều hoạt tính sinh học như chống oxy hóa, kháng viêm, và kháng ung thư.

1.1. Đặc điểm thực vật

Ngọc cẩu là loại cây cỏ mập, không có diệp lục, màu đỏ nâu sẫm. Cấu tạo bởi một cán hoa lớn, trên mang hoa dày đặc, có mô bao bọc, màu tím, mùi hôi. Củ hình trứng, đường kính 2 - 2,5 cm, bề mặt sần sùi và có mụn hình sao nổi rõ. Hoa đơn tính khác gốc, hợp thành một cụm hoa dạng bông nạc. Cụm hoa đực hình trụ, dài từ 10 - 15 cm, trong khi cụm hoa cái hình bầu dục thuôn, dài từ 2-3 cm.

1.2. Công dụng chữa bệnh

Theo Y học cổ truyền, ngọc cẩu được sử dụng để bổ máu, phục hồi sức khỏe phụ nữ sau sinh, kích thích ngon miệng, chữa đau bụng, nhức mỏi chân tay. Ở Trung Quốc, toàn cây ngọc cẩu dùng trị hư lao, xuất huyết, chữa đau lưng, lở trĩ, giải độc rượu, và làm thuốc bổ sinh lý nam nữ.

II. Giới thiệu về loài vú bò Ficus hirta

Vú bò (Ficus hirta) là một loài thực vật thuộc họ Moraceae, phân bố rộng rãi ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Vú bò được biết đến với nhiều hoạt tính sinh học như kháng viêm, kháng ung thư, và chống oxy hóa. Thành phần hóa học của vú bò bao gồm các hợp chất flavonoid, alkaloid, và sterol. Các hợp chất này có tiềm năng lớn trong việc phát triển các ứng dụng y học mới.

2.1. Đặc điểm thực vật

Vú bò là loại cây thân gỗ, cao từ 2-5 mét, lá hình trứng, có lông mịn. Hoa của vú bò mọc thành cụm, quả có hình cầu, màu xanh khi non và chuyển sang màu đỏ khi chín. Cây thường mọc ở các khu vực rừng núi, ven suối, và các vùng đất ẩm ướt.

2.2. Công dụng chữa bệnh

Theo Y học cổ truyền, vú bò được sử dụng để chữa các bệnh về đường tiêu hóa, đau bụng, và viêm nhiễm. Các bài thuốc dân gian thường sử dụng lá và rễ của vú bò để làm thuốc. Ngoài ra, vú bò còn được dùng để điều trị các bệnh về da và hỗ trợ phục hồi sức khỏe sau bệnh.

III. Nghiên cứu thành phần hóa học

Nghiên cứu thành phần hóa học của ngọc cẩuvú bò đã được thực hiện nhằm xác định các hợp chất tự nhiên có trong hai loài này. Các phương pháp chiết xuấtphân lập hợp chất đã được áp dụng để tách các thành phần hóa học từ mẫu thực vật. Các hợp chất được xác định cấu trúc bằng các phương pháp phổ IR, MS, 1D-NMR, và 2D-NMR.

3.1. Thành phần hóa học của ngọc cẩu

Các hợp chất được phân lập từ ngọc cẩu bao gồm các dẫn xuất của acid cinnamic, lignan, và flavonoid. Một số hợp chất mới như balanochalcone cũng đã được phát hiện. Các hợp chất này có tiềm năng lớn trong việc phát triển các ứng dụng y học mới.

3.2. Thành phần hóa học của vú bò

Các hợp chất được phân lập từ vú bò bao gồm các flavonoid, alkaloid, và sterol. Các hợp chất này có hoạt tính sinh học đa dạng, bao gồm kháng viêm, kháng ung thư, và chống oxy hóa. Các nghiên cứu tiếp theo sẽ tập trung vào việc khám phá thêm các hợp chất mới và tính chất sinh học của chúng.

IV. Hoạt tính sinh học

Hoạt tính sinh học của các hợp chất phân lập từ ngọc cẩuvú bò đã được đánh giá thông qua các thử nghiệm gây độc tế bào, kháng viêm, và chống oxy hóa. Các kết quả cho thấy nhiều hợp chất có tiềm năng lớn trong việc phát triển các ứng dụng y học.

4.1. Hoạt tính gây độc tế bào

Các hợp chất từ ngọc cẩuvú bò đã được thử nghiệm trên các dòng tế bào ung thư như KB, HepG2, và MCF-7. Kết quả cho thấy một số hợp chất có hoạt tính gây độc tế bào mạnh, đặc biệt là các hợp chất thuộc nhóm flavonoid và lignan.

4.2. Hoạt tính kháng viêm

Các hợp chất từ ngọc cẩuvú bò cũng được thử nghiệm trên các mô hình kháng viêm. Kết quả cho thấy các hợp chất này có khả năng ức chế sản sinh nitric oxide (NO), một chất trung gian quan trọng trong quá trình viêm.

V. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của ngọc cẩuvú bò đã làm sáng tỏ nhiều công dụng dân gian của hai loài này. Các hợp chất mới được phát hiện có tiềm năng lớn trong việc phát triển các ứng dụng y học mới. Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc khám phá thêm các hợp chất mới và tính chất sinh học của chúng.

5.1. Đánh giá hoạt tính sinh học

Các kết quả nghiên cứu cho thấy ngọc cẩuvú bò có nhiều hoạt tính sinh học đa dạng, bao gồm kháng viêm, kháng ung thư, và chống oxy hóa. Các hợp chất mới được phát hiện có tiềm năng lớn trong việc phát triển các ứng dụng y học mới.

5.2. Hướng nghiên cứu tiếp theo

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc khám phá thêm các hợp chất mới và tính chất sinh học của chúng. Ngoài ra, cần tiến hành các thử nghiệm lâm sàng để đánh giá hiệu quả và độ an toàn của các hợp chất này trong điều trị bệnh.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ hóa học nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt sính sinh học của hai loài ngọc cẩu balanophora laxiflora hemsl và vú bò ficus hirta vahl

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Tài nguyên cây thuốc đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khoẻ, chữa bệnh cho con người, đặc biệt ở các nước nghèo, đang phát triển và có truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ngày nay có khoảng 80% dân số ở các nước đang phát triển với dân số khoảng 4,5 đến 5 tỉ người trên thế giới có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu phụ thuộc vào nền y học cổ truyền. Việt Nam nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới, có nguồn tài nguyên cây thuốc phong phú và đa dạng. Theo kết quả điều tra nguồn tài nguyên dược liệu ở Việt Nam giai đoạn 2001-2005 của Viện Dược liệu Việt Nam, hiện Việt Nam có khoảng 10.500 loài thực vật bậc cao, nằm trong 2.275 chi, 305 họ trong đó có 3.950 loài được dùng làm thuốc (17% số cây thuốc của thế giới), không kể cây thuốc dân tộc (Ethno- medicinal plants) còn ít biết [1].

Y dược cổ truyền Việt Nam có nhiều loại cây thuốc quý, nhiều bài thuốc hay được sử dụng từ hàng ngàn năm trước đến nay vẫn còn nguyên giá trị chữa bệnh, cứu người. Đặc biệt, những bài thuốc bồi bổ cơ thể được nhiều người sử dụng, đã góp phần nâng cao thể trạng, phát triển giống nòi người Việt Nam. Trong nhiều năm qua, Việt Nam đã từng bước lồng ghép Y dược cổ truyền vào hệ thống Y tế quốc gia, phát huy được vai trò to lớn của Y dược cổ truyền. Đường lối phát triển Y dược học cổ truyền Việt Nam đã được khẳng định nhất quán trong nhiều năm qua là: kế thừa, phát huy, phát triển y dược học cổ truyền, kết hợp với y học hiện đại, xây dựng nền y dược học cổ truyền Việt Nam khoa học dân tộc và đại chúng.

Hiện đại hóa y dược cổ truyền và kết hợp y dược cổ truyền với y dược hiện đại đang là mục tiêu và yêu cầu phát triển của thời đại. Thực hiện tốt công việc này sẽ góp phần đưa sự nghiệp chăm sóc sức khỏe nhân dân lên tầm cao mới. Với mục tiêu hiện đại hóa y học cổ truyền và kết hợp y học cổ truyền với y học hiện đại thì việc phát hiện các vị thuốc mới, các hợp chất có hoạt tính sinh học cao, các hợp chất mới trong các cây thuốc truyền thống là nhiệm vụ hàng đầu của các nhà khoa học. Việt Nam có khoảng 54 dân tộc cùng sinh sống như dân tộc Kinh, Tầy, Dao, Sán Chay, Mông, Nùng, Sán Dìu, Ê đe.

Một số dân tộc có những cây thuốc quý, những bài thuốc gia truyền có giá trị chữa, trị bệnh có hiệu quả được người dân tin dùng và được hội Đông Y Việt Nam công nhận tuy nhiên những bài thuốc của người dân ít được chứng minh bằng khoa học. Cây ngọc cẩu (Balanophora laxiflora Hemsl.), cây vú bò (Ficus 2 hirta Vahl.) là những cây thuốc quý trong kho tàng cây thuốc, vị thuốc Việt Nam, hai loài này đã được người dân dùng trị, chữa bệnh thông thường và trị nhiều chứng bệnh nan y có hiệu quả như: bổ máu, phục hồi sức khỏe phụ nữ sau sinh, kích thích ngon miệng, chữa đau bụng, nhức mỏi chân tay…. Trên thế giới đã công bố những chất được tách ra từ hai loài trên có hoạt tính sinh học tốt như hoạt tính kháng viêm, kháng ung thư, chống oxi hóa. Việc nghiên cứu thành phần hóa học và khảo sát hoạt tính sinh học của loài ngọc cẩu và loài vú bò góp phần làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng chiến lược quản lý, bảo tồn, phát triển bền vững tính đa dạng sinh học của rừng đặc dụng của Việt Nam, làm sáng tỏ những công dụng loài vú bò và loài ngọc cẩu mà nhân dân vẫn đang sử dụng.

Do đó tôi chọn đối tượng đề tài “Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt sính sinh học của hai loài ngọc cẩu (Balanophora laxiflora Hemsl.) và vú bò (Ficus hirta Vahl.)” Theo hướng nghiên cứu này, luận án có các nội dung sau: 1. Nghiên cứu được thành phần hóa học của hai loài: loài ngọc cẩu (B. Xác định cấu trúc hóa học các hợp chất phân lập được bằng các phương pháp phổ IR, MS, 1D-NMR, 2D-NMR. Đánh giá một số hoạt tính độc tế bào, hoạt tính kháng viêm, hoạt tính chống tăng sinh trên dòng tế bào tủy xương cấp tính (OCI-AML) của các cao chiết và của một số hợp chất phân lập được nhằm định hướng cho các nghiên cứu ứng dụng tiếp theo.

Việc nghiên cứu thành phần hóa học và khảo sát hoạt tính sinh học của loài ngọc cẩu và loài vú bò làm sáng tỏ những công dụng dân gian đã dùng và tìm ra những chất mới, hoạt chất mới góp phần làm phong phú thêm những nghiên cứu về loài ngọc cẩu và loài vú bò. Giới thiệ về loài ngọc cẩ (B. Chi Balanophora Chi Balanophora có khoảng 120 loài thuộc họ Balanophoraceae phân bố trên khắp thế giới. Nhiều loài trong số chúng phân bố ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới ở Châu Á, Châu Đại Dương và gần 20 loài được phân bố rộng rãi ở Tây Nam Trung Quốc [2, 3].

Những loài thuộc chi Balanophora thường sống ký sinh trên rễ cây lá rộng thường xanh, đặc biệt là trong họ Leguminosae, Ericaceae, Urticaceae, và Fagaceae [2,4-5]. Ở Việt Nam hiện có khoảng 6 loài thuộc chi Balanophora: B.abbreviata trong đó loài B. cucphuongensis là loài đặc hữu chỉ có ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia Cúc Phương [6-10]. Những nghiên cứu về thực vật các loài thuộc họ Balanophoraceae cho thấy trong chi Balanophora có thành phần hóa học rất đa dạng, bao gồm các hợp chất lignan, phenylpropanoid, tanin, flavonoid, terpenoid, acid amin.

Chi Balanophora có rất nhiều loại tanin thủy phân (tanin pyrogallic), đặc biệt là chất ellagitannin. Thành phần cấu tạo đặc trưng của các tanin này là các dẫn xuất của acid cinamic và có thêm một dẫn xuất của acid phenylacrylic [caffeoyl, coumaroyl, feruloyl hoặc cinnamoyl), trong đó ở vị trí C-1 liên kết glucosid dưới dạng R–O–glycosidic (R: galloyl, caffeoyl và hexahydroxydiphenoyl (HHDP)], ở các vị trí C-3, C-4 hoặc C-6 liên kết theo kiểu ester R-CO-O-glycosidic [11]. Các hợp chất được tách ra từ chi Balanophora có hoạt tính chống oxy hóa [2, 5, 12], ức chế HIV [13], hạ đường huyết [14, 15], chống viêm, giảm đau [16, 17], kháng ung thư [18]. Các loài thuộc chi Balanophora được sử dụng trong Y học cổ truyền Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Nepan, Thái Lan, Việt Nam làm thuốc bổ sinh lý nam nữ, giải độc rượu, chữa bệnh trĩ, đau dạ dày, ho gà, bệnh lậu, giang mai…[5-10, 19, 21-22].

Loài ngọc cẩu (B. Tên gọi Tên khoa học: Balanophora laxiflora Tên thông thường: ngọc cẩu, tỏa dương, củ gió đất, củ ngọt núi, hoa đất, cu chó, xà cô, nấm đất, dó đất hoa thưa, dương đài hoa thưa [6-10]. 4 Phân loại khoa học [2-10]. Giới thực vật: Plantae Ngành Mộc lan: Magnoliophyta Lớp Mộc lan: Magnoliopsida Bộ Dương đài: Balanophorales Họ Dó đất: Balanophoraceae Chi: Balanophora Loài: Balanophora laxiflora 1.

Đặc điểm thực vật loài ngọc cẩu (B. laxiflora Hemsl) Ngọc cẩu là loại cây cỏ mập, trông như một cây nấm, sống ký sinh trên rễ cây lá rộng thường xanh, đặc biệt là trong họ Leguminosae, Ericaceae,Urticaceae, và Fagaceae, màu đỏ nâu sẫm, không diệp lục. Cấu tạo bởi một cán hoa lớn, trên mang hoa dày đặc, có mô bao bọc, màu tím, mùi hôi. Cán hoa nạc và mềm, dạng thay đổi, sần sùi, không có lá.

Củ hình trứng, đường kính 2 - 2,5 cm, bề mặt sần sùi và có mụn hình sao nổi rõ. Hoa đơn tính khác gốc, hợp thành nột cụm hoa dạng bông nạc. Hoa đực và hoa cái riêng. Cụm hoa đực hình trụ, gồm những hoa gần như không cuống, dài từ 10 - 15 cm, bao gồm sáu mảnh, trong đó hai mảnh giữa (đối diện nhau) lớn hơn và cụt đầu, các mảnh bên hình trái xoan tròn đầu, khối phấn bị ép ngang.

Cụm hoa cái hình bầu dục thuôn, dài từ 2-3 cm không có bao hoa, mọc ở quanh chân của vảy bảo bệ. Vảy hình trứng lõm ở đỉnh, một vòi nhụy [2-10]. Cây đực (♂) Cây cái (♀) Hình 1. Cây ngọc cẩu (B.

Công dụng chữa bệnh của loài ngọc cẩu (B. laxiflora) * Theo Y học cổ truyền. Cây ngọc cẩu dùng làm thuốc bổ máu, phục hồi sức khỏe phụ nữ sau sinh, kích thích ngon miệng, chữa đau bụng, nhức mỏi chân tay…. Ở Trung Quốc, toàn cây ngọc cẩu dùng trị hư lao, xuất huyết, chữa đau lưng, lở trĩ, giải độc rượu, thuốc bổ sinh lý nam nữ… [2-10].

* Một số bài thuốc dân gian dùng cây ngọc cẩu chữa bệnh: + Bài thuốc giúp phục hồi sức khỏe phụ nữ sau sinh Ngọc cẩu 15 - 20 g, ích mẫu thảo khô 30 g, cho vào 3 bát nước sắc còn 1 bát. Sau đó sắc nước 2, nước 3. Đổ lẫn 3 bát thuốc của 3 lần, sắc lại còn 1 bát, chia 2 - 3 lần uống sau khi ăn trong ngày. Cần uống liền 30 ngày sẽ cho kết quả rất tốt.

+ Bài thuốc chữa nam sinh lý yếu Ngọc cẩu 100g, rễ đinh lăng 100g, ba kích 80g, dâm dương hoắc (sao với mỡ dê) 50g, đương quy 50g, hà thủ ô đỏ 50g, câu kỷ tử 50g, thục địa 50g, bạch truật 50g, trần bì 30g. Tất cả ngâm với 5 lít rượu gạo có độ cao, sau 20 ngày là sử dụng. Ngày uống 2 lần vào trước hoặc sau bữa ăn hay trước lúc ngủ, mỗi lần 30 ml. + Bài thuốc chữa liệt dương Ngọc cẩu 12g, thục địa 15g, sơn thù 15g, sơn dược 15g, phục linh 12g, câu kỷ tử 15g, nhục thung dung 12g, dâm dương hoắc 30g, ba kích 12g, bạch nhân sâm 12g, lộc nhung 6g, táo nhân (sao) 12g, thỏ ty tử 12g, thiên môn đông 9g, cam thảo 9g.

Tán bột mịn, làm hoàn, ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 hoàn 9g, chiêu với nước trắng, kiêng ăn các thức tanh lạnh trong thời gian sử dụng thuốc. + Bài thuốc bổ thận tráng dương Ngọc cẩu 15 g, nhân sâm 12 g, hoàng kỳ 16 g, đỗ trọng 16 g, nhục thung dung 8 g, thỏ ty tử 12 g, xa sàng tử 12 g, phúc bồn tử 12 g, đương quy 12 g, bạch truật 12 g, thục địa 16 g, ba kích 12 g, dâm dương hoắc 12 g, lộc nhung 12 g, câu kỷ tử 12 g, đại táo 5 quả, long nhãn 10 g, cam thảo 6 g, xuyên khung 8 g, hà thủ ô đỏ 12 g. Sắc ngày 1 thang lấy 3 lần nước thuốc rồi làm lại còn 250 ml, chia 3 lần uống trong ngày. Cần uống liền 7 thang.

Nếu uống được rượu thì có thể dùng phương trên nhưng mỗi vị cần gấp 5 lần cho cả thang thuốc, ngâm với 5 lít rượu trong 30 ngày rồi mới gạn rượu và cho vào 500 ml mật ong trộn đều để uống dần.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu thành phần hóa học và hoạt tính sinh học của ngọc cẩu Balanophora laxiflora và vú bò Ficus hirta là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các hợp chất hóa học và tiềm năng dược liệu của hai loài thực vật quý hiếm. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp thông tin chi tiết về cấu trúc hóa học mà còn đánh giá các hoạt tính sinh học như kháng khuẩn, chống oxy hóa, và hỗ trợ điều trị bệnh. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà khoa học, dược sĩ, và những người quan tâm đến dược liệu tự nhiên.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu tương tự, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người, một nghiên cứu liên quan đến hóa học phân tích và tác động sức khỏe. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế dung quất huyện bình sơn tỉnh quảng ngãi cung cấp góc nhìn sâu hơn về ứng dụng hóa học trong đánh giá môi trường. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông gianh tỉnh quảng bình là một tài liệu bổ sung về phân tích chất lượng nước, giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp nghiên cứu hóa học ứng dụng.

Hãy khám phá các tài liệu này để có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực hóa học và sinh học!