MỞ ĐẦU -------- 1 Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, chất lượng cuộc sống của con người cũng ngày càng được nâng cao hơn, đặc biệt là trong nhu cầu chăm sóc sức khỏe. Các sản phẩm biệt dược đi từ nguồn tổng hợp tuy có nhiều hiệu quả nhưng khá đắt tiền và gây ra không ít tác dụng phụ cho con người và môi trường. Do đó, hóa học các hợp chất thiên nhiên ngày càng được quan tâm hơn. Bằng cách tiến hành tách chiết, cô lập, bán tổng hợp các hợp chất có hoạt tính sinh học để tạo ra các sản phẩm hữu ích từ cây cỏ thiên nhiên có tác dụng như thuốc tổng hợp nhưng ít độc hơn và dễ dung nạp vào cơ thể con người hơn nhất là ở người cao tuổi và có bệnh mãn tính.
Khí hậu Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới nên có thảm thực vật xanh tốt quanh năm. Do đó, nguồn thực vật vô cùng phong phú không những làm thức ăn cho con người mà còn có tác dụng chữa bệnh. Vì vậy, đây là một trong những điều kiện vô cùng thuận lợi cho quá trình tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học. Cây trâu cổ (Ficus pumila L.) là một loại cây phân bố rộng rãi ở nước ta.
Đây là loài cây rất dễ sống, có sự phát tán và sinh sôi nảy nở dễ dàng. Cây trâu cổ có những công dụng quan trọng như: bổ thận, tráng dương, trị đau đầu, đau lưng, phong thấp, đau khớp, đau dây thần kinh toạ … Với những ưu điểm này đây là một nguồn dược liệu vô cùng quý giá. Tại Việt Nam, việc sử dụng cây trâu cổ chủ yếu dựa theo kinh nghiệm dân gian, chưa có công trình nghiên cứu về thành phần hóa học cũng như thử nghiệm hoạt tính sinh học của cây trâu cổ để hướng đến việc sử dụng dược liệu một cách hiệu quả, đúng liều lượng và có cơ sở khoa học. Trên cơ sở đó, chúng tôi chọn đề tài : “ Góp phần tìm hiểu thành phần hóa học cao ethyl acetate lá cây trâu cổ (Ficus pumila L.
Mục đích cô lập và xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất trong lá cây. Với hy vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ mang lại nhiều hiểu biết mới về mặt hóa thực vật của cây trâu cổ mọc tại Việt Nam góp phần làm tăng giá trị sử dụng của loài cây này trong cuộc sống. 2 CHƯƠNG 01: TỔNG QUAN -------- 1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY TRÂU CỔ [1],[2] 3 1.
Kh hái quát Tên khoaa học: Ficuss pumila L. L Tên khác: Cây xộp, sung thằn lằn, xộp xộp, x vẩy ốc, bị lệ. Tên nướcc ngoài: Creeeping fig,, Climbing fig (Anh). Giới: Planntae Bộ: Rosalles Họ: Dâu tằm t (Moraaceae).
Chi: Ficu us Loài : F.1: Cây C trâu cổ ổ 1. Mô tảả thực vật Trâu cổ là loại dây leo nhỏ, mọc m bám nhhờ rễ phụ. Cành ngắắn và mềm,, màu nâu,, lúúc non có lôông sau nhhẵn. Lá mọọc sole, lá ở cành sinhh sản (cànhh này thườ ờng lên cao o m mới phân cấấp) hình bầầu dục hoặặc hình trứ ứng, dài 5 – 7 cm, rộn ng 2,5 – 4,,5 cm, gốcc 4 tròn hoặc hơ ơi hình tim m, đầu tù ho oặc hơi nhọọn, hai mặặt nhẵn, méép nguyên, gân gốc 3 – 5, nổi rõ ở mặt dướii, gân phụ tạo thành mạng m thưaa; cuống lá dài 1,5 – 1,8 cm, có ó lôông hung; lá l kèm có lông; lá ở cành khônng sinh sảnn hình vảy ốc, gốc lệch mọc áp p sáát vào thân n cây chủ, dài d khoảng 2 – 2,5 cm m, cuống ng gắn 2 – 3 mm.2: Lá L trâu cổ Cụm hoa mọc ở kẽ lá; hoa đự ực rất nhiềuu, mọc tụ tập ở gần đỉnh, dài 2 – 3 răng,, nhhị 2, bao phhấn hẹp; hoa cái có 4 lá dài khôông bằng nhau; n bầu th huôn dài, ccong.
Quả phứcc to, hình chóp c ngượ ợc, đầu bằnng, dài 3,5 cm, dày 3 cm, nhẵnn, màu tím m nââu khi chínn, cùi nạc và v mềm xốp p. Mùa hoa quả: thángg 5 – 10.3: Quả Q trâu cổổ 1. Phâân bố, sinh h thái Trâu cổ có c nguồn ggốc từ Nhậật Bản và Trung Quốốc, phân bố b tự nhiênn từ Trung g Q Quốc đến Việt V Nam, Lào. L Cây còn c được trrồng rộng rãi khắp vùng v nhiệt đới đ và cậnn nhhiệt đới ch hâu Á, để làm cảnh và làm thuuốc.
Ở Việt Nam, câây phân bốố gần như ư khhắp nơi, trừ ừ vùng núúi cao trên 1500 m. Trâu T cổ thư ường phụ sinh s trên thhân những g câây gỗ ở vùn ng rừng thứ ứ sinh, dọcc theo các bờ b sông suuối, hay trênn những câây cổ thụ ở vùùng đồng bằng, b trungg du cũng như cây trrồng lấy bóng mát ở các thànhh phố. Cây y m trên các tảng đá haay tường gạạch xây lâuu ngày. Lợi dụng khảả năng này,, còòn mọc bám nggười dân trrồng trâu cổ c cho leo lên các trụụ cổng, tườ ờng rào và mặt ngoài tường cácc diinh thự choo thêm phầần cổ kính.4: Câyy trâu cổ mọc m bám trrên bờ tườ ờng Trâu cổ làà cây ưa sááng, sinh trrưởng mạnnh trong mùa m mưa ẩm m.
Về mùa đông, cây y gầần như ngừ ừng sinh trrưởng nhưnng lá vẫn xxanh. Cây ra r hoa quảả nhiều vàoo mùa hè – 6 thu. Khi quả chín rụng xuống đất, phần thịt thối rữa, hạt phát tán ra xung quanh. Tuy nhiên, tất cả những cây trâu cổ phụ sinh trên thân cây gỗ là do chim ăn quả chín, hạt theo phân chim dính vào vỏ cây giá thể.
Trâu cổ có khả năng tái sinh. Cách trồng Trâu cổ thường được trồng cho leo lên các cây to, bờ tường, bờ rào; cây leo đến đâu, các đốt thân sẽ ra rễ đến đó và bám vào giá thể. Cành lá của trâu cổ không đều nhau, có cành lá nhỏ như vảy ốc bám sát vào tường, có cành lá to và thường sẽ cho quả. Cây được nhân giống bằng các đoạn thân có rễ ở đốt.
Chỉ cần cắt một đoạn rồi giâm xuống đất và bảo đảm đủ ẩm sẽ mọc thành cây. Chú ý trồng cạnh bờ tường, cây to để cây có chỗ leo. Trâu cổ sống khỏe, sinh trưởng, phát triển nhanh, ít sâu bệnh, không cần chăm sóc. CÔNG DỤNG CỦA CÂY TRÂU CỔ 1.
Theo y học cổ truyền [1] Quả trâu cổ có vị ngọt, chát, tính bình, có tác dụng bổ thận, tráng dương, cố tinh, hoạt huyết, hạ nhũ. Quả trâu cổ là một vị thuốc bổ được nhân dân dùng từ lâu đời để chữa di tinh, liệt dương, đau lưng, lỵ lâu ngày thoát giang, tắc tia sữa. Liều dùng hằng ngày: 5 – 15 g, có thể đến 20 – 30 g dưới dạng thuốc sắc hoặc chế thành cao. Thân, cành, lá có vị chua, đắng, tính bình, có tác dụng khư phong, lợi thấp, tiêu thũng, tán kết.
Thân, cành, lá chữa phong thấp, đau nhức chân tay, mình mẩy với liều 9 – 15 g mỗi ngày, dưới dạng nước sắc hoặc ngâm rượu uống. Rễ có vị đắng, chát, tính bình. Có tác dụng khư phong, trừ thấp, thư kinh, thông lạc. Rễ chữa đau đầu, chóng mặt, đau khớp, đau dây thần kinh toạ.
Nhựa mủ bôi ngoài chữa mụn nhọt, ghẻ lở, dị ứng sơn. Bài thuốc có trâu cổ [1] Chữ đau xương, đau mình: Quả trâu cổ thái nhỏ nấu với nước, lọc bỏ bã, cô đặc thành cao. Có thể dùng dây và lá phơi khô. Chữa dương ủy, di tinh: Quả trâu cổ 12 g, dây sàn xạt 12 g.
Sắc nước uống (Trung thảo dược học Trung Quốc). 7 Chữa thấp khớp mạn tinh: Cành trâu cổ, rễ cỏ xước, thổ phục linh, rễ tầm xuân, mỗi thứ 20 g; dây rung rúc 12 g; thiên niên kiện, rễ gấc, lá lốt, dây đau xương, cành dâu mỗi thứ 10 g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô sắc với 400 ml nước còn 100 ml, cô tiếp cho thật đặc, khi dùng hòa thêm rượu chia 3 lần uống trong ngày (Bệnh viện Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Hà Tây). Chữa tắc tia sữa, sưng vú: Quả trâu cổ 40 g; bồ công anh, lá mua mỗi thứ 15 g.
Sắc nước uống. Kết hợp dùng ngoài, lấy lá bồ công anh giã nhỏ chế với giấm, chưng nóng rồi chườm đắp (Lê Trần Đức). Thuốc giải khát, thanh nhiệt: Quả trâu cổ chín, rửa sạch, giã nát hay xay nghiền bằng máy, cho vào túi vải ép lấy nước cốt. Để yên nước này sẽ đông thành thạch màu trắng.
Thái khối thạch thành sợi, cho vào cốc nước đường có thêm ít hương liệu uống (Đỗ Huy Bích). THÀNH PHẦN HÓA HỌC Năm 1997, Erlinda A. Juan và cộng sự đã cô lập được từ cao chloroform của lá trâu cổ 2 hợp chất furanocoumarin, bergapten (1) và oxypeucedanin hydrate (2).[8] H3CO OCH3 H OH H H3COC H 38 39 40 41 14 Cùng năm 1999, Consolacion Y. Ragasa và cộng sự đã cô lập được từ cao chloroform của lá trâu cổ 1 hợp chất triterpenoid khung neohopane mới (42).
HOẠT TÍNH SINH HỌC Hoạt tính kháng vi sinh vật Năm 1997, Erlinda A. Juan và cộng sự đã cô lập được từ cao chloroform của lá trâu cổ 2 hợp chất furanocoumarin, bergapten (1) và oxypeucedanin hydrate (2). Hợp chất bergapten có hoạt tính ức chế các chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Salmonella typhi ở nồng độ 58 g/L. Hợp chất oxypeucedanin hydrate có hoạt tính ức chế các chủng vi khuẩn Salmonella typhi ở nồng độ 44 g.
Tuy nhiên, hoạt tính của hai hợp chất trên yếu hơn so với chất đối chứng dương chloramphenicol đối với chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus, Salmonella typhi và tetracycline đối với chủng vi khuẩn Escherichia coli ở nồng độ 30 g/L. Ragasa và cộng sự đã cô lập được từ cao chloroform của lá trâu cổ 1 hợp chất triterpenoid khung neohopane mới (42). Hợp chất (42) ở nồng độ 30 g/L có hoạt tính ức chế các chủng vi khuẩn Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa, Bacillus subtilis và chủng nấm Candida albicans với chỉ số kháng vi sinh vật trung bình lần lượt là 0,5, 0,3, 0,3 và 0,7, so với chỉ số kháng vi sinh vật trung bình của các đối chứng dương ở cùng nồng độ của E. aeruginosa là 1,5 (tetracycline), của B.
subtilis là (1,0 chloramphenicol), và của C. Trong 3 hợp chất này, rutin cho hoạt tính chống oxy hóa mạnh nhất với giá trị SC50 0,05 mM mạnh hơn chất đối chứng dương - tocopherol (SC50 0,17 mM) treo phương pháp DPPH.[10] Hoạt tính khác Thí nghiệm trên chuột nhắt, polysaccharide của quả trâu cổ với liều 416,6 mg/kg, tiêm xoang bụng hoặc tiêm dưới da liên tục 10 ngày có tác dụng ức chế nhiều loại tế bào ung thư đã được cấy ghép trên chuột, mạnh nhất đối với sarcom lympho I và sarcom 180.