Góp phần tìm hiểu thành phần hóa học của cao ethyl acetate từ lá cây trâu cổ (Ficus pumila L.)

Tài liệu nghiên cứu Góp phần tìm hiếu thành phần hóa học cao ethyl acetate lá trâu có ficus pumila l, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên sâu về hóa học.

Chuyên ngành

Kỹ Thuật Hóa Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2015

74
5
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

TÓM TẮT QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU

1. CHƯƠNG 01: TỔNG QUAN

1.1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY TRÂU CỔ

1.1.1. Mô tả thực vật

1.1.2. Phân bố, sinh thái

1.2. CÔNG DỤNG CỦA CÂY TRÂU CỔ

1.2.1. Theo y học cổ truyền

1.2.2. Bài thuốc có trâu cổ

1.3. THÀNH PHẦN HÓA HỌC

1.4. HOẠT TÍNH SINH HỌC

2. CHƯƠNG 02: THỰC NGHIỆM

2.1. ĐIỀU KIỆN THỰC NGHIỆM

2.1.1. Thiết bị phân tích

2.2. NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.2.1. Phương pháp tiến hành

2.3. ĐIỀU CHẾ CÁC LOẠI CAO

2.3.1. Điều chế cao ethanol

2.3.2. Điều chế các loại cao

2.4. QUÁ TRÌNH CÔ LẬP

2.5. SỐ LIỆU PHỔ NGHIỆM CÁC HỢP CHẤT PHÂN LẶP

2.5.1. Hợp chất FPE4

2.5.2. Hợp chất FPE5

2.5.3. Hợp chất FPE6

3. CHƯƠNG 03: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. GIỚI THIỆU CHUNG

3.2. XÁC ĐỊNH CẤU TRÚC CÁC HỢP CHẤT CÔ LẬP

3.2.1. Xác định cấu trúc hợp chất FPE4

3.2.2. Xác định cấu trúc hợp chất FPE5

3.2.3. Xác định cấu trúc hợp chất FPE6

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH ẢNH

DANH MỤC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu thành phần hóa học cao ethyl acetate

Nghiên cứu thành phần hóa học của cao ethyl acetate từ lá cây trâu cổ (Ficus pumila L.) là một lĩnh vực đang thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học. Cây trâu cổ không chỉ có giá trị về mặt dược liệu mà còn chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học. Việc phân tích thành phần hóa học sẽ giúp hiểu rõ hơn về giá trị của loài cây này trong y học cổ truyền và hiện đại.

1.1. Đặc điểm sinh học của cây trâu cổ

Cây trâu cổ (Ficus pumila L.) là một loại cây leo, có khả năng sinh trưởng mạnh mẽ trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Cây có lá hình bầu dục, mọc sole và có khả năng bám vào các bề mặt khác nhau. Đặc điểm này giúp cây phát triển tốt trong môi trường tự nhiên và nhân tạo.

1.2. Giá trị dược liệu của cây trâu cổ

Cây trâu cổ được sử dụng trong y học cổ truyền với nhiều công dụng như bổ thận, tráng dương, và trị các bệnh liên quan đến đau nhức. Việc nghiên cứu thành phần hóa học sẽ cung cấp cơ sở khoa học cho việc sử dụng cây trâu cổ trong điều trị bệnh.

II. Thách thức trong nghiên cứu thành phần hóa học của cao ethyl acetate

Mặc dù cây trâu cổ có nhiều tiềm năng, nhưng việc nghiên cứu thành phần hóa học của cao ethyl acetate từ lá cây này gặp phải một số thách thức. Các vấn đề như thiếu tài liệu nghiên cứu trước đó và khó khăn trong việc cô lập các hợp chất có hoạt tính sinh học là những trở ngại lớn.

2.1. Thiếu thông tin về thành phần hóa học

Hiện tại, có rất ít nghiên cứu về thành phần hóa học của cây trâu cổ, điều này gây khó khăn cho việc xác định các hợp chất có hoạt tính sinh học. Việc thiếu thông tin này làm giảm khả năng ứng dụng của cây trong y học.

2.2. Khó khăn trong quá trình chiết xuất

Quá trình chiết xuất và cô lập các hợp chất từ lá cây trâu cổ đòi hỏi kỹ thuật cao và thiết bị hiện đại. Điều này có thể làm tăng chi phí nghiên cứu và hạn chế khả năng tiếp cận của nhiều nhà khoa học.

III. Phương pháp chiết xuất cao ethyl acetate từ lá cây trâu cổ

Để nghiên cứu thành phần hóa học, phương pháp chiết xuất cao ethyl acetate từ lá cây trâu cổ được thực hiện qua nhiều bước. Các bước này bao gồm thu hái, phơi khô, xay nhỏ và chiết xuất bằng ethanol, sau đó sử dụng các dung môi khác nhau để tách chiết các hợp chất.

3.1. Quy trình thu hái và chuẩn bị nguyên liệu

Lá cây trâu cổ được thu hái vào mùa hè, sau đó được phơi khô và xay nhỏ để chuẩn bị cho quá trình chiết xuất. Việc chuẩn bị nguyên liệu đúng cách là rất quan trọng để đảm bảo chất lượng cao của sản phẩm cuối cùng.

3.2. Phương pháp chiết xuất bằng ethanol

Sử dụng phương pháp ngâm dầm với ethanol 96% để chiết xuất các hợp chất từ lá cây. Quá trình này giúp thu được cao ethanol, từ đó tiếp tục thực hiện các bước chiết xuất khác để thu được cao ethyl acetate.

IV. Kết quả nghiên cứu thành phần hóa học cao ethyl acetate

Kết quả nghiên cứu cho thấy cao ethyl acetate từ lá cây trâu cổ chứa nhiều hợp chất có hoạt tính sinh học. Các hợp chất này được xác định thông qua các phương pháp phân tích hiện đại như NMR và sắc ký lớp mỏng.

4.1. Các hợp chất chính trong cao ethyl acetate

Nghiên cứu đã cô lập được ba hợp chất chính từ cao ethyl acetate, bao gồm rutin, hỗn hợp ba đồng phân fructose và bergapten. Đây là những hợp chất lần đầu tiên được xác định từ cây trâu cổ.

4.2. Hoạt tính sinh học của các hợp chất

Các hợp chất được cô lập cho thấy hoạt tính sinh học đáng kể, đặc biệt là rutin với khả năng chống oxy hóa mạnh. Điều này mở ra cơ hội cho việc phát triển các sản phẩm dược phẩm từ cây trâu cổ.

V. Ứng dụng thực tiễn của cao ethyl acetate từ lá cây trâu cổ

Cao ethyl acetate từ lá cây trâu cổ có nhiều ứng dụng trong y học và công nghiệp dược phẩm. Việc hiểu rõ về thành phần hóa học sẽ giúp tối ưu hóa quy trình sản xuất và nâng cao giá trị sử dụng của cây trâu cổ.

5.1. Ứng dụng trong y học cổ truyền

Cao ethyl acetate có thể được sử dụng để điều chế các bài thuốc trong y học cổ truyền, giúp nâng cao hiệu quả điều trị các bệnh lý liên quan đến thận và xương khớp.

5.2. Tiềm năng trong ngành công nghiệp dược phẩm

Với các hợp chất có hoạt tính sinh học, cao ethyl acetate từ lá cây trâu cổ có thể được phát triển thành các sản phẩm dược phẩm mới, đáp ứng nhu cầu chăm sóc sức khỏe ngày càng cao của người tiêu dùng.

VI. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu thành phần hóa học của cao ethyl acetate từ lá cây trâu cổ đã mở ra nhiều hướng đi mới trong việc ứng dụng cây thuốc này. Kết quả nghiên cứu không chỉ góp phần làm phong phú thêm kho tàng dược liệu Việt Nam mà còn tạo cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo.

6.1. Tóm tắt kết quả nghiên cứu

Kết quả nghiên cứu đã xác định được nhiều hợp chất có giá trị từ cao ethyl acetate, mở ra cơ hội cho việc phát triển các sản phẩm mới từ cây trâu cổ.

6.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về hoạt tính sinh học của các hợp chất và khả năng ứng dụng của chúng trong điều trị bệnh. Việc này sẽ giúp nâng cao giá trị sử dụng của cây trâu cổ trong y học hiện đại.

25/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU -------- 1 Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, chất lượng cuộc sống của con người cũng ngày càng được nâng cao hơn, đặc biệt là trong nhu cầu chăm sóc sức khỏe. Các sản phẩm biệt dược đi từ nguồn tổng hợp tuy có nhiều hiệu quả nhưng khá đắt tiền và gây ra không ít tác dụng phụ cho con người và môi trường. Do đó, hóa học các hợp chất thiên nhiên ngày càng được quan tâm hơn. Bằng cách tiến hành tách chiết, cô lập, bán tổng hợp các hợp chất có hoạt tính sinh học để tạo ra các sản phẩm hữu ích từ cây cỏ thiên nhiên có tác dụng như thuốc tổng hợp nhưng ít độc hơn và dễ dung nạp vào cơ thể con người hơn nhất là ở người cao tuổi và có bệnh mãn tính.

Khí hậu Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới nên có thảm thực vật xanh tốt quanh năm. Do đó, nguồn thực vật vô cùng phong phú không những làm thức ăn cho con người mà còn có tác dụng chữa bệnh. Vì vậy, đây là một trong những điều kiện vô cùng thuận lợi cho quá trình tìm kiếm các hợp chất tự nhiên có hoạt tính sinh học. Cây trâu cổ (Ficus pumila L.) là một loại cây phân bố rộng rãi ở nước ta.

Đây là loài cây rất dễ sống, có sự phát tán và sinh sôi nảy nở dễ dàng. Cây trâu cổ có những công dụng quan trọng như: bổ thận, tráng dương, trị đau đầu, đau lưng, phong thấp, đau khớp, đau dây thần kinh toạ … Với những ưu điểm này đây là một nguồn dược liệu vô cùng quý giá. Tại Việt Nam, việc sử dụng cây trâu cổ chủ yếu dựa theo kinh nghiệm dân gian, chưa có công trình nghiên cứu về thành phần hóa học cũng như thử nghiệm hoạt tính sinh học của cây trâu cổ để hướng đến việc sử dụng dược liệu một cách hiệu quả, đúng liều lượng và có cơ sở khoa học. Trên cơ sở đó, chúng tôi chọn đề tài : “ Góp phần tìm hiểu thành phần hóa học cao ethyl acetate lá cây trâu cổ (Ficus pumila L.

Mục đích cô lập và xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất trong lá cây. Với hy vọng rằng kết quả nghiên cứu sẽ mang lại nhiều hiểu biết mới về mặt hóa thực vật của cây trâu cổ mọc tại Việt Nam góp phần làm tăng giá trị sử dụng của loài cây này trong cuộc sống. 2 CHƯƠNG 01: TỔNG QUAN -------- 1. ĐẶC ĐIỂM CỦA CÂY TRÂU CỔ [1],[2] 3 1.

Kh hái quát Tên khoaa học: Ficuss pumila L. L Tên khác: Cây xộp, sung thằn lằn, xộp xộp, x vẩy ốc, bị lệ. Tên nướcc ngoài: Creeeping fig,, Climbing fig (Anh). Giới: Planntae Bộ: Rosalles Họ: Dâu tằm t (Moraaceae).

Chi: Ficu us Loài : F.1: Cây C trâu cổ ổ 1. Mô tảả thực vật Trâu cổ là loại dây leo nhỏ, mọc m bám nhhờ rễ phụ. Cành ngắắn và mềm,, màu nâu,, lúúc non có lôông sau nhhẵn. Lá mọọc sole, lá ở cành sinhh sản (cànhh này thườ ờng lên cao o m mới phân cấấp) hình bầầu dục hoặặc hình trứ ứng, dài 5 – 7 cm, rộn ng 2,5 – 4,,5 cm, gốcc 4 tròn hoặc hơ ơi hình tim m, đầu tù ho oặc hơi nhọọn, hai mặặt nhẵn, méép nguyên, gân gốc 3 – 5, nổi rõ ở mặt dướii, gân phụ tạo thành mạng m thưaa; cuống lá dài 1,5 – 1,8 cm, có ó lôông hung; lá l kèm có lông; lá ở cành khônng sinh sảnn hình vảy ốc, gốc lệch mọc áp p sáát vào thân n cây chủ, dài d khoảng 2 – 2,5 cm m, cuống ng gắn 2 – 3 mm.2: Lá L trâu cổ Cụm hoa mọc ở kẽ lá; hoa đự ực rất nhiềuu, mọc tụ tập ở gần đỉnh, dài 2 – 3 răng,, nhhị 2, bao phhấn hẹp; hoa cái có 4 lá dài khôông bằng nhau; n bầu th huôn dài, ccong.

Quả phứcc to, hình chóp c ngượ ợc, đầu bằnng, dài 3,5 cm, dày 3 cm, nhẵnn, màu tím m nââu khi chínn, cùi nạc và v mềm xốp p. Mùa hoa quả: thángg 5 – 10.3: Quả Q trâu cổổ 1. Phâân bố, sinh h thái Trâu cổ có c nguồn ggốc từ Nhậật Bản và Trung Quốốc, phân bố b tự nhiênn từ Trung g Q Quốc đến Việt V Nam, Lào. L Cây còn c được trrồng rộng rãi khắp vùng v nhiệt đới đ và cậnn nhhiệt đới ch hâu Á, để làm cảnh và làm thuuốc.

Ở Việt Nam, câây phân bốố gần như ư khhắp nơi, trừ ừ vùng núúi cao trên 1500 m. Trâu T cổ thư ường phụ sinh s trên thhân những g câây gỗ ở vùn ng rừng thứ ứ sinh, dọcc theo các bờ b sông suuối, hay trênn những câây cổ thụ ở vùùng đồng bằng, b trungg du cũng như cây trrồng lấy bóng mát ở các thànhh phố. Cây y m trên các tảng đá haay tường gạạch xây lâuu ngày. Lợi dụng khảả năng này,, còòn mọc bám nggười dân trrồng trâu cổ c cho leo lên các trụụ cổng, tườ ờng rào và mặt ngoài tường cácc diinh thự choo thêm phầần cổ kính.4: Câyy trâu cổ mọc m bám trrên bờ tườ ờng Trâu cổ làà cây ưa sááng, sinh trrưởng mạnnh trong mùa m mưa ẩm m.

Về mùa đông, cây y gầần như ngừ ừng sinh trrưởng nhưnng lá vẫn xxanh. Cây ra r hoa quảả nhiều vàoo mùa hè – 6 thu. Khi quả chín rụng xuống đất, phần thịt thối rữa, hạt phát tán ra xung quanh. Tuy nhiên, tất cả những cây trâu cổ phụ sinh trên thân cây gỗ là do chim ăn quả chín, hạt theo phân chim dính vào vỏ cây giá thể.

Trâu cổ có khả năng tái sinh. Cách trồng Trâu cổ thường được trồng cho leo lên các cây to, bờ tường, bờ rào; cây leo đến đâu, các đốt thân sẽ ra rễ đến đó và bám vào giá thể. Cành lá của trâu cổ không đều nhau, có cành lá nhỏ như vảy ốc bám sát vào tường, có cành lá to và thường sẽ cho quả. Cây được nhân giống bằng các đoạn thân có rễ ở đốt.

Chỉ cần cắt một đoạn rồi giâm xuống đất và bảo đảm đủ ẩm sẽ mọc thành cây. Chú ý trồng cạnh bờ tường, cây to để cây có chỗ leo. Trâu cổ sống khỏe, sinh trưởng, phát triển nhanh, ít sâu bệnh, không cần chăm sóc. CÔNG DỤNG CỦA CÂY TRÂU CỔ 1.

Theo y học cổ truyền [1] Quả trâu cổ có vị ngọt, chát, tính bình, có tác dụng bổ thận, tráng dương, cố tinh, hoạt huyết, hạ nhũ. Quả trâu cổ là một vị thuốc bổ được nhân dân dùng từ lâu đời để chữa di tinh, liệt dương, đau lưng, lỵ lâu ngày thoát giang, tắc tia sữa. Liều dùng hằng ngày: 5 – 15 g, có thể đến 20 – 30 g dưới dạng thuốc sắc hoặc chế thành cao. Thân, cành, lá có vị chua, đắng, tính bình, có tác dụng khư phong, lợi thấp, tiêu thũng, tán kết.

Thân, cành, lá chữa phong thấp, đau nhức chân tay, mình mẩy với liều 9 – 15 g mỗi ngày, dưới dạng nước sắc hoặc ngâm rượu uống. Rễ có vị đắng, chát, tính bình. Có tác dụng khư phong, trừ thấp, thư kinh, thông lạc. Rễ chữa đau đầu, chóng mặt, đau khớp, đau dây thần kinh toạ.

Nhựa mủ bôi ngoài chữa mụn nhọt, ghẻ lở, dị ứng sơn. Bài thuốc có trâu cổ [1] Chữ đau xương, đau mình: Quả trâu cổ thái nhỏ nấu với nước, lọc bỏ bã, cô đặc thành cao. Có thể dùng dây và lá phơi khô. Chữa dương ủy, di tinh: Quả trâu cổ 12 g, dây sàn xạt 12 g.

Sắc nước uống (Trung thảo dược học Trung Quốc). 7 Chữa thấp khớp mạn tinh: Cành trâu cổ, rễ cỏ xước, thổ phục linh, rễ tầm xuân, mỗi thứ 20 g; dây rung rúc 12 g; thiên niên kiện, rễ gấc, lá lốt, dây đau xương, cành dâu mỗi thứ 10 g. Tất cả thái nhỏ, phơi khô sắc với 400 ml nước còn 100 ml, cô tiếp cho thật đặc, khi dùng hòa thêm rượu chia 3 lần uống trong ngày (Bệnh viện Vân Đình, huyện Ứng Hòa, Hà Tây). Chữa tắc tia sữa, sưng vú: Quả trâu cổ 40 g; bồ công anh, lá mua mỗi thứ 15 g.

Sắc nước uống. Kết hợp dùng ngoài, lấy lá bồ công anh giã nhỏ chế với giấm, chưng nóng rồi chườm đắp (Lê Trần Đức). Thuốc giải khát, thanh nhiệt: Quả trâu cổ chín, rửa sạch, giã nát hay xay nghiền bằng máy, cho vào túi vải ép lấy nước cốt. Để yên nước này sẽ đông thành thạch màu trắng.

Thái khối thạch thành sợi, cho vào cốc nước đường có thêm ít hương liệu uống (Đỗ Huy Bích). THÀNH PHẦN HÓA HỌC Năm 1997, Erlinda A. Juan và cộng sự đã cô lập được từ cao chloroform của lá trâu cổ 2 hợp chất furanocoumarin, bergapten (1) và oxypeucedanin hydrate (2).[8] H3CO OCH3 H OH H H3COC H 38 39 40 41 14 Cùng năm 1999, Consolacion Y. Ragasa và cộng sự đã cô lập được từ cao chloroform của lá trâu cổ 1 hợp chất triterpenoid khung neohopane mới (42).

HOẠT TÍNH SINH HỌC  Hoạt tính kháng vi sinh vật Năm 1997, Erlinda A. Juan và cộng sự đã cô lập được từ cao chloroform của lá trâu cổ 2 hợp chất furanocoumarin, bergapten (1) và oxypeucedanin hydrate (2). Hợp chất bergapten có hoạt tính ức chế các chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus, Escherichia coli, Salmonella typhi ở nồng độ 58 g/L. Hợp chất oxypeucedanin hydrate có hoạt tính ức chế các chủng vi khuẩn Salmonella typhi ở nồng độ 44 g.

Tuy nhiên, hoạt tính của hai hợp chất trên yếu hơn so với chất đối chứng dương chloramphenicol đối với chủng vi khuẩn Staphylococcus aureus, Salmonella typhi và tetracycline đối với chủng vi khuẩn Escherichia coli ở nồng độ 30 g/L. Ragasa và cộng sự đã cô lập được từ cao chloroform của lá trâu cổ 1 hợp chất triterpenoid khung neohopane mới (42). Hợp chất (42) ở nồng độ 30 g/L có hoạt tính ức chế các chủng vi khuẩn Escherichia coli, Pseudomonas aeruginosa, Bacillus subtilis và chủng nấm Candida albicans với chỉ số kháng vi sinh vật trung bình lần lượt là 0,5, 0,3, 0,3 và 0,7, so với chỉ số kháng vi sinh vật trung bình của các đối chứng dương ở cùng nồng độ của E. aeruginosa là 1,5 (tetracycline), của B.

subtilis là (1,0 chloramphenicol), và của C. Trong 3 hợp chất này, rutin cho hoạt tính chống oxy hóa mạnh nhất với giá trị SC50 0,05 mM mạnh hơn chất đối chứng dương - tocopherol (SC50 0,17 mM) treo phương pháp DPPH.[10]  Hoạt tính khác Thí nghiệm trên chuột nhắt, polysaccharide của quả trâu cổ với liều 416,6 mg/kg, tiêm xoang bụng hoặc tiêm dưới da liên tục 10 ngày có tác dụng ức chế nhiều loại tế bào ung thư đã được cấy ghép trên chuột, mạnh nhất đối với sarcom lympho I và sarcom 180.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ