CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYET 1. Vẫn dé phân chia từ loại trong tiếng Hán 1. Phân chia từ loại trong ngôn ngữ hoc đại cương Phân loại từ là một phần quan trọng trong phân tích ngữ pháp. Tuy nhiên, đối với van dé này, mỗi nhà ngữ pháp học lại có một cách nhìn nhận khác nhau.
Trong lịch sử phân định từ loại, có thé kế ra một số quan điểm có ảnh hưởng lớn, xuất phát từ ngôn ngữ học Âu- Mỹ rồi lan ra các nước khác như sau: Thứ nhất, phân chia từ loại dựa trên tiêu chí ý nghĩa khái quát của từ. Đây từng được coi là là quan điểm kinh điền trong nhiều thé kỉ, kéo đài đến tận thế ki XIX. Khởi dau là các triết gia Hi Lạp như Protagoros, Cratyle, Platon. Thứ hai, phân chia từ loại dựa trên tiêu chí hình thức ngữ pháp (đặc điểm hình thái học) của từ.
Tiêu biểu là nhà ngôn ngữ hoc Nga F. Thứ ba, phân chia từ loại dựa trên tiêu chí khả năng kết hợp (khả năng phân bố) của nó trong câu, đặc biệt là trong ngữ. Tiêu biéu là trường phái ngôn ngữ học miêu tả Mỹ (Bloomfield, E. Thứ tư, phân chia từ loại dựa trên các tiêu chí từ vung — ngữ pháp, tức là những lớp từ được phân chia ra trong một ngôn ngữ dựa trên ý nghĩa khái quát và đặc điểm hoạt động ngữ pháp của nó.
Trong đó, ý nghĩa khái quát của từ làý nghĩa ngữ pháp tự thân, thường trực như: ý nghĩa sự vật, ý nghĩa trạng thái, ý nghĩa tính chất, ý nghĩa số lượng, ý nghĩa quan hệ, ý nghĩa tình thái,. Còn đặc điểm hoạt động ngữ pháp của từ bao gôm đặc điểm hình thái học và đặc điểm cú pháp học. Đặc điểm hình thái học là một căn cứ rat quan trong dé phân loại từ trong các ngôn ngữ. biến hình như tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp,.
Đặc diém cú pháp học là đặc điểm của từ về khả năng kết hop và chức năng cú pháp. Trong các ngôn ngữ không biến hình như tiếng Hán, tiếng Viét,. đặc điểm cú pháp học là một chỗ dựa rat quan trọng dé xác định các từ loại. “Không phải tất cả các ngôn ngữ cùng có những từ loại như nhau.
Một số từ loại như vị từ, danh từ đường như ngôn ngữ nao cũng có. Một số từ loại khác như tính từ, trạng từ có thé có trong một số ngôn ngữ này mà không có trong một số ngôn ngữ khác. Trên cơ sở truyền thông Latin, người ta thường xác định các từ loại như: danh tu (noun), đại từ (pronoun), tính từ (adjective), vi từ (verb), trạng từ (adverb), giới từ (preposition), liên từ (conjunction), quán từ (article) va than từ (interjection). Ngoài ra, còn có một số phạm trù mới được đưa vào ngôn ngữ học như: tiêu từ (particle), trợ vị tu (auxiliary), đại ngữ (pro-form), hệ từ (copula).
Phân chia từ loại trong tiếng Hán 1. Một số nhà ngôn ngữ học đồng tình với quan điểm xác định tiêu chí phân định từ loại là hình thức ngữ pháp của từ và cho răng, những ngôn ngữ đơn lập, không biến đồi hình thái như tiếng Hán, tiếng Việt không thé phân chia từ loại một cách chính xác. Trong tiếng Hán, tiêu biểu là nhận định của Mã Kiến Trung “Tự vô định nghĩa, có vô định loại ”(vì từ không cónghĩa có định nên cũng không có từ loại cố định) [142]. Lã Thúc Tương trong cuốn Khái lược ngữ pháp Trung Quốc cũng cho rằng: về mặt hình thức không thê phân biệt được từ loại trong tiếng Hán [141].
Trong tiếng Việt, các học giả Grammont, Lé Quang Trinh, Hồ Hữu Tường, | Nguyễn Hiến Lê cũng phủ nhận sự tồn tại của từ loại, “bởi theo họ tiếng Việt cơ cấu theo một lối khác hắn với các ngôn ngữ phuơng Tây - từ không biến đổi hình thái, nên không có “từ loại” ” [dẫn theo 13]. Tuy nhiên, nhận định như vậy là chưa xác đáng, vì “từ loại không thé không tôn tai trong ngôn ngữ”. “Bởi lẽ, hễ là từ được vận dung vào câu thì nhất thiết nó phải thể hiện ra những đặc điểm hoặc cương vị tạo câu của nó. Những đặc điểm hoặc cương vị ấy chính là những tiêu chí để phân định từ loại, mặc dù các hình thức thể hiện của nó trong từng ngôn ngữ.có thể rất khác nhau.
Đa số các nhà nghiên cứu đều thừa nhận sự có mặt của phạm trù từ loại trong tiếng Hán và tiếng Việt, mặc dù, tiêu chí và kết quả phân định từ loại của họ không hoàn toàn giống nhau. Có thể chia ra 3 trường hợp sau: a. Phân loại từ dựa vào ý nghĩa khái quát Mặc dù cho rằng dựa vào mặt hình thức không.thể phân biệt được từ loại trong tiếng Hán nhưng Lã Thúc Tương chủ trương dựa vào “ý nghĩa và tác dụng tương cận dé quy từ về một loại. La Thúc Tương chia từ trong tiếng Hán thành hai loại chính là thực từ và từ phụ trợ: thực từ “là những từ có ý nghĩa tương đối thực tại”, từ phụ trợ là “những từ có ý nghĩa tương đối trừu tượng, nhưng có thé phụ trợ cho thực từ biểu đạt suy nghĩ của chúng ta” [141].
Có thé thay, La Thúc Tương chủ yếu dựa vào tiêu chíý nghĩa dé phân biệt từ loại. Vương Lực cũng là một trong những tác giả tiêu biểu của Trung: Quốc sử dụng tiêu chíý nghĩa dé phân loại từ. Cuốn Ngữ pháp hiện đại Trung quốc (1943) của ông chỉ rõ “phân loại từ trong tiếng Hán gần như toàn bộ chỉ có thê dựa vào mặt ý nghĩa. Có nghĩa là, từ có thé phân làm hai loại: loại thứ nhất là thực từ, ý nghĩa của chúng rat cụ thé, đó là những từ chỉ sự vật, con số, hình thái, động tác.; loại thứ hai là hư từ, ý nghĩa của chúng rất linh hoạt, khi đứng độc lập chúng haw như không mang nghĩa, tuy nhiên chúng lại thể hiệný nghĩa ngữ pháp trong câu.
Qua đó, có thể thấy, tiêu chí ý nghĩa của Vương Lực hàm chứa hai nội dung hoàn toàn khác nhau: ý nghĩa khái niệm đối với thực từ và ý nghĩa ngữ pháp đối với hư từ. Trong tiếng Việt, các học giả Trương VĩnhKý, Trần Trọng Kim, Bùi Đức Tịnh, Nguyễn Lân cũng chủ trương phân định từ loại tiếng Việt dựa vào tiêu chuẩný nghĩa. Theo đó, từ tiếng Việt được phân chia thành hai nhóm lớn là thực từ (biểu hiệný nghĩa từ vựng) và hư từ' (biểu hiệný nghĩa ngữ pháp), mỗi nhóm bao gồm nhiều từ loại khác nhau, mà “mỗi loại trong các từ ngữ ây đều có ý nghĩa riêng biệt, không thé lẫn lộn .” và “muốn sắp một từ ngữ thuộc về loại nao (.) cần phải biết rõ ý nghĩa của nó” (Bùi Đức Tịnh 1952: 274) [dẫn theo 13]. Phân loại từ dựa vào chức năng ngữ pháp Cuốn Tiếng Hán hiện đại do Hoàng Bá Vinh và Liêu Tự Đông [111] nhận định như sau về vấn đề phân loại từ: Từ loại là phân loại từ về mặt ngữ pháp.
Tiêu chí để phân loại từ là đặc trưng về mặt ngữ pháp, mà chủ yếu là chức năng ngữ pháp của từ. Cuốn sách này còn chỉ ra rang: "chức năng ngữ pháp của từ một mat biểu hiện ở khả năng có thé làm thành phan câu hay không .từ có thé làm thành phan câu gọi là thực từ; một loại từ khác không làm được thành phan câu, chỉ có thé bô trợ cho thực từ tạo câu, biéu thịý nghĩa ngữ pháp. những từ như vậy gọi là hư từ” [111, tr. Chức năng ngữ pháp của thực từ biểu hiện ở khả năng kết hợp giữa từ với từ, đặc điểm ngữ pháp của hư từ biéu hiện ở mối liên hệ giữa nó với đoản ngữ và thực từ.
Dựa vào tiêu chí phân loại này, các tác giả phân định từ loại tiếng Hán thành 14 loại: - Thực từ (10 loại): danh từ, động từ, tính từ, khu biệt từ, SỐ tỪ, lượng từ, phó từ, đại từ, từ tượng thanh, thán từ - Hư từ (4 loại): giới từ, liên từ, trợ từ, ngữ khí từ Trong cuôn Tiếng Hán hiện đại, Hồ Dụ Thụ viết về vẫn đề phân loại từ như sau: "nó chỉ các cách biểu hiện trong kết cau ngôn ngữ của từ, mục đích của việc phân loại từ về mặt ngữ pháp là dé chỉ rõ quan hệ kết cấu với các thành phần khác của từ, thuyết minh quy luật tô hợp của ngôn ngữ, do vậy, căn cứ cơ bản dé phân loại từ là chức năng ngữ pháp” [116, tr. Hồ Du Thụ chia từ thành 13 loại: - Thực từ (7 loại): Danh từ, động từ, tính từ, số từ, lượng từ, phó từ, đại từ - Hư từ (6 loại): Giới từ, liên từ, trợ từ, ngữ khí từ, thán từ, từ tượng thanh Trong tiếng Việt, các giả Phan Khôi, Lê Văn Lý, Emeneau, Nguyễn Tài Cần, Nguyễn Phú Phong, Lưu Vân Lăng cũng tiến hành phân định từ loại dựa vào đặc diém ngữ pháp của từ, cụ thé là dựa vào chức vụ cú pháp và/hoặc khả năng kết hợp. Phân loại từ dựa trên tiêu chí từ vựng - ngữ pháp Tuy biện pháp phân loại cụ thé không hoàn toàn giống nhau nhưng khá nhiều nhà nghiên cứu thực hiện phân loại từ dựa trên tiêu chí từ vựng - ngữ pháp. Trương Tĩnh [187] trong cuốn Tiếng Hán hiện đại tân biên lay tiêu chí| phân loại từ là sự kết hợp giữa đặc điểm ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp.
Ông chủ trương “căn cứ phân loại từ phải là các đặc điểm ngữ pháp có thể đối lập lẫn nhau của từ. Đặc điểm ngữ pháp ở đây chính là đặc điểm của sự kết hợp giữa ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp. Những đặc điểm của ý nghĩa ngữ pháp và hình thức ngữ pháp có thê dùng làm tiêu chí phân loại từ chủ yếu làý nghĩa trừu tượng, ý nghĩa chức năng và hình thức kết hợp. Về mặt ý nghĩa ngữ pháp, thực từ là những từ có thể làm thành phần câu; về mặt hình thức ngữ pháp, thực từ là những từ có thê kết hợp với những từ khác tạo thành tổ hợp từ.
Hư từ là những từ đối lập với thực từ. Căn cứ vào đó Trương Tinh phân định từ tiếng Hán thành 11 loại: - Thực từ (7 loại): Danh từ, động từ, tính từ, sé lượng từ, pho từ, dai từ, tt tượng thanh. - Hư từ (4 loại): G"ới từ, liên từ, ngữ. khí từ, thán từ.
Trong tiếng Việt, cũng có nhiều nhà Việt ngữ học như Hoàng Tuệ, Nguyễn. Kim Thản, Đinh Văn Đức,. tiến hành phân định từ loại tiếng Việt dựa trên sự kết hợp cả hai tiêu chí từ vựng - ngữ pháp.