Đặt vấn đề Bách hợp còn gọi là Tỏi rừng, Khẻo ma, Suôn phạ (Tày), Kíp pá (Thái), Cà ngái dòi (Dao), có tên khoa học là Lilium brownii Brown var. Viridulum Baker, 1885, tên đồng danh là Lilium brownii Brown var., thuộc họ hành tỏi (Liliaceae) là cây thuốc phổ biến và quan trọng trong Đông y (Nguyễn Tập, 2007) [7]. Bách hợp có dạng cây cỏ, cao 0,5 – 1m, thân hành to màu trắng, dọc thân có nhiều vảy xếp chồng lên nhau. Cây thường mọc hoang ở các trảng cỏ và bờ nương rẫy vùng núi cao.
Vẩy thân hành của cây thường được dùng làm thuốc giảm đau, chống ho, chống viêm hoặc như một nguồn dinh dưỡng. Theo tài liệu cổ, Bách hợp có tác dụng bổ phổi, trừ ho, định tâm, an thần, thanh nhiệt, lợi tiểu, chữa ho lao thổ huyết, ho có đờm, viêm phế quản, hư phiền hồi hộp, tim đập mạnh, phù thũng (Đỗ Huy Bích, 2004) [2]. Ở Trung Quốc, Bách hợp thường được dùng làm thuốc nhuận phế, chỉ khái, an thần bình tâm. Ở Việt Nam, Bách hợp có mặt trong thành phần của nhiều loại thuốc trị ho đang có mặt trên thị trường như Bách hợp chỉ khái lộ, An khái hoa, Cốm ho Ma hạnh Vinet….Ngoài các tác dụng làm thuốc kế trên, Bách hợp còn là cây cho hoa đẹp để làm cảnh.
Với những đặc tính như trên từ những năm 1980 cây đã bị khai thác quá mức để lấy nguyên liệu làm thuốc và xuất khẩu tiểu ngạch qua biên giới. Thêm vào đó nguồn Bách hợp tự nhiên còn bị thu hẹp do nạn phá rừng ngày càng gia tăng. Mặc dù cây có thể tái sinh tự nhiên bằng hạt, nhưng chỉ có những hạt khi phát tán, được tiếp xúc được với mặt đất ẩm hay hốc đá có mùn mới có cơ hội nẩy mầm (Đỗ Huy Bích, 2004) [2]. Do vậy, nó liên tục được đưa vào danh lục đỏ Cây thuốc Việt Nam các năm 1996, 2001 và 2006 và trong Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của chính phủ (30/3/2006) nhằm quản lý và bảo vệ.
Tuy nhiên, nghiên cứu nhân giống cây bách hợp cho đến nay chưa được quan tâm nhiều ở Việt Nam. Nhằm bảo tồn nguồn gen và nhân rộng giống cây thuốc đang bị đe dọa này chúng tôi đã tiến hành đề tài: “Nghiên cứu tạo củ in vitro cây bách hợp (Lilium brownii Brown)”. Mục tiêu của đề tài 1. Mục tiêu tổng quát Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố và kỹ thuật đến sự hình thành củ in vitro cây bách hợp nhằm xây dựng quy trình nhân giống loài cây này với tỷ lệ sống cao ngoài vườn ươm.
Mục tiêu cụ thể - Xác định được điều kiện khử trùng thích hợp. - Xác định được môi trường tái sinh thích hợp. - Xác định được ảnh hưởng của môi trường, chất điều hòa sinh trưởng, đường đến sự tạo củ in vitro. - Xác định được giá thể thích hợp để đưa cây in vitro ra vườn ươm 3 PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.
Giới thiệu chung về chi Lilium và cây Bách hợp 2. Giới thiệu chung về chi Lilium Chi Lilium (họ Liliaceae) gồm khoảng 100 loài (Mcrae, 1998) [30], được biết đến trước hết là những loài hoa loa kèn, huệ tây trồng làm cảnh. Trong số đó có hai nhóm quan trọng nhất là Lilium longilorum (Easter Loa kèn) và Lilium hybrids (gồm Asiatic Loa kèn và Oriental Loa kèn) rất đa dạng về hình thái, màu sắc. Hiện nay việc lai tạo giữa các nhóm Lilium để tạo ra các giống có bản sắc riêng, phù hợp với điều kiện sinh thái, khí hậu mỗi vùng và cải thiện được các đặc tính của các giống lai đang là xu hướng trong công tác lai tạo giống loa kèn.
Chi Lilium phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới ấm Bắc bán cầu. Ở Châu Á có khoảng hơn một chục loài tập trung chủ yếu ở vùng cận Himalaya (Đỗ Huy Bích, 2004) [2]. Theo thống kê của Đặng Văn Đông và Đinh Thế Lộc (2008) [1] thì hiện nay Trung Quốc có khoảng 460 giống hoa thuộc chi Lilium, 280 biến chủng (chiếm 1/2 tổng số hoa loa kèn trên thế giới), Nhật Bản có 145 giống trong đó có 19 giống đặc trưng của Nhật, Hà Lan có 302 giống trong đó 80% giống là do chính Hà Lan tạo ra, Hàn Quốc có khoảng 110 giống trong đó có 30 giống đặc trưng của nước này. Theo Phạm Hoàng Hộ (1999) [12] ở Việt Nam, ngoài 2 loài được trồng phổ biến là L.
longiflorum Thunb và L. lancifolium, hiện có 3 loài hoa loa kèn hoang dại thuộc chi Lilium được ghi nhận là Lilium brownii F. Brown (bách hợp), Lilium poilanei Gagne và Lilium arboricola. Trong các loài mọc tự nhiên, đáng chú ý nhất là cây bách hợp, đây loài cây vừa có hoa đẹp làm cảnh và vừa có tác dụng làm thuốc chữa bệnh.
Bách hợp còn gọi là Tỏi rừng, Khẻo ma, Suôn phạ (Tày), Kíp pá (Thái), Cà ngái dòi (Dao), có tên khoa học là Lilium brownii Brown var. viridulum Baker (năm 1885), tên đồng danh là Lilium brownii Brown var. (năm 1921), là cây thuốc phổ biến và rất quan trọng trong Đông y. Giới thiệu c1hung về cây Bách hợp 2.
Phân loại Cây Bách hợp thuộc chi Loa kèn (Lilium) được sắp xếp trong hệ thống phân loại như sau : Giới: Thực vật (Plantae) Ngành: Thực vật hạt kín (Anginosperm) Lớp: Thực vật Một lá mầm (Monocosts) Bộ: Loa kèn (Liliales) Họ: Loa kèn (Liliceae) Chi: Loa kèn (Lilium) Loài: Bách hợp (Lilium brownii Br. Hình thái Lilium brownii F. Brown var colchesteri Wilson thuộc nhóm Leucolirion là một trong bốn nhóm được phân loại dựa vào hình dạng hoa (Wilson, 1925) [38] hay nhóm Archelirion là một trong 7 nhóm được phân chia dựa vào nhiều các đặc điểm khác như phương thức nẩy mầm của hạt, cách sắp xếp của lá, các đặc điểm của hạt và vẩy củ, nơi sống và hình dạng củ… cũng như là hình dạng của hoa (Comber, 1949) [22]. Lilium brownii var.
colchesteri là cây thảo cao 0,5 - 1 m được tìm thấy ở nhiều nơi phía Đông châu Á - miền Nam Trung Quốc từ Hồng Kông đến Mianma. Thân hành (thường gọi nhầm là củ) mầu trắng đục, có khi màu hồng rất nhạt gồm nhiều vảy nhẵn, dễ gãy. Thân trên mặt đất mọc thẳng đứng, không phân nhánh, cứng và nhẵn, màu xanh lục có khi điểm những đốm nhỏ. Lá mọc so le, có bẹ, hình mũi mác, gốc tròn, đầu thuôn nhọn, gân lá hình cung, hai mặt trơn nhẵn.
Cụm hoa mọc ở ngọn thân gồm 2-5 hoa to màu trắng, hơi vàng; lá bắc; bao hoa hình phễu hay loa kèn, khi nở cong ra ngoài; 6 nhị ngắn hơn các bộ phận của bao hoa, chỉ nhị hình dùi, bao phấn hình trái xoan hay thuôn. Quả nang, dài 5-6 cm, có 3 ngăn chứa nhiều hạt nhỏ. Mùa hoa: từ đầu mùa hè (tháng 5) đến cuối mùa hè (tháng 7). Mùa quả: tháng 8 - 10.
5 Là cây bản địa của vùng trung tâm Trung Quốc ở độ cao 1500m so với mặt nước biển (McRae, 1998) [30]. Củ của nó được dùng như một loại rau để ăn và để làm thuốc (Chen et al. Lily có đặc trưng riêng về vẻ đẹp, sự độc đáo cũng như màu sắc, và hương thơm dịu mát, bao hoa thay đổi nhanh chóng từ kem vàng sang trắng ngay trong quá trình nở. Nó đã được đưa vào nước Anh từ năm 1835 và sau đó trải dài đến Bỉ và Hà Lan (Willson, 1925) [38].
Ở Việt Nam, Bách hợp chỉ thấy mọc tự nhiên ở một vài nơi thuộc vùng khí hậu á nhiệt đới núi cao từ 1300 đến 2000 mét, như Sa Pa, Bát Xát (Lào Cai), Mù cang Chải (Yên Bái); Sìn Hồ, Phong Thổ (Lai Châu), Quản Bạ, Đồng Văn (Hà Giang); núi Phia Bi Oóc và vùng đèo Gió (Cao Bằng). Bách hợp thuộc cây ưa sáng, ưa khí hậu ẩm mát, nhiệt độ trung bình năm từ 15 - 18,50C. Cây thường mọc trên các hốc mùn chân núi đá vôi hoặc lẫn trong các trảng cỏ, cây bụi thấp có địa hình dốc (đỉnh đèo Hoàng Liên Sơn). Hình ảnh cây Bách hợp (Lilium brownii Br.
Một số hợp chất sinh học có giá trị từ cây Bách hợp Trong Lilium brownii F.E var colchesteri Wilson có 30% tinh bột, protit 4%, chất béo 0,1%, Colchicein C21H23O6N1/2H2O và ít vitamin C. Thành phần hoá học của Lilium brownii đã được nghiên cứu năm 1998 bởi Hou đã cho thấy củ của nó có 5 loại hợp chất. Dựa vào các phân tích quang phổ (IR, FAB-MS, 1HNMR, DEPT, HMQC, HMBC) và các đặc tính hóa lý, chúng được xác nhận là beta-sitosterol (I), 6 daucosterol (II), n-butyl-beta-D-fructopyranoside (III), 26-O-beta-D- glucopyranosyl-3 beta, 26-dihydroxy-5-cholesten-16, 22-dioxo-3-O-alpha-L- rhamnopyranosyl-(1-->2)-beta-D-glucopyranoside (IV), 26-O-beta-D- glucopyranosyl-3beta, 26-dihydroxy cholestan-16, 22-dioxo-3-O-alpha-L- rhamnopyranosyl-(1-->2)-beta-D-glucopyranoside(V) Năm 2012, 2 chlorophenyl glycosides mới và hiếm từ củ cây này là 2,4,6- trichlorol-3-methyl-5-methoxy-phenol 1-O-β-D-glucopyranosyl-(1 → 6)-β-D- glucopyranoside (1) and 4-chlorol-5-hydroxyl-3-methyl-phenol 1-O-α-L- rhamnopyranosyl-(1→6)-β-D-glucopyranoside (2) cũng đã được phân lập dựa trên các phương pháp hoá học và quang phổ Lilin, một loại protein giàu glutamate và arginin có hoạt tính miễn dịch và antifulgal đã đượcWang H (2002) [37] trường Đại học Nông Nghiệp Trung Quốc phân lập từ củ khô Lilium brownii. Nó được xác định là chuỗi đơn, có trong lượng tử là14,4 kDa, và có tác dụng ức chế sự hoạt động của enzym chuyển hóa HIV – 1 2.
Công dụng của Bách hợp Lilium brownii được dùng làm thực phẩm ở cả dạng tươi và khô. Củ của Lilium brownii có vị ngọt dịu, được dùng làm rau giống như khoai tây. Tinh bột của chúng được chiết và được cho vào các món ăn khác. Củ nghiền ra có thể được cho vào làm đặc súp, cánh hoa khô được dùng như chất tạo hương vị trong súp.
Ở Trung Quốc cây được trồng nhiều làm thực phẩm tốt cho sức khỏe hay làm món ăn xa xỉ và hầu hết thường được bán dưới dạng khô. Đặc biệt vào mùa hè, người ta thường ăn chúng để giảm sự nóng bên trong cơ thể. Người Trung Quốc còn dùng bột từ chồi hoa cây này thay cho bột hoa hiên. Ở Nhật bản, nó cũng được dùng thường xuyên cho nhiều món ăn, đặc biệt nó là thành phần không thể thiếu trong món trứng chiên nổi tiếng của họ (món Chawanmushi).
Một số thực phẩm đƣợc chế biến từ Bách hợp A: Món canh hoa bách hợp B: Món canh hến bách hợp Ở Hồng Kông, củ của Lilium brownii được dùng làm thuốc chống ho, lợi tiểu, thuốc đánh rắm, thuốc long đờm, thuốc hạ sốt, đau ngực, an thần và thuốc bổ. Nước sắc được dùng trong điều trị bệnh ho và thiếu máu, hay lo âu, hồi hộp, phù nề và tiểu khó. Các hành nhỏ từ nách lá được dùng trong điều trị bệnh rối loạn tiêu hóa. Bột hoa hay hoa khô được dùng làm thuốc đắp vào chỗ bầm tím hoặc đứt tay….
Ở Việt Nam, nó có mặt trong thành phần của nhiều loại sản phẩm trị ho đang bán trên thị trường dược như Bách hợp chỉ khái lộ, An khái hoa, Cốm ho Ma hạnh Vinet….