MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Việt Nam đã có nhiều đóng góp quý giá vào công cuộc xây dựng và phát triển hệ thống ngữ pháp tiếng Việt. Các công trình nghiên cứu của họ được giới ngôn ngữ học ghi nhận và được xuất bản thành sách, giáo trình giảng dạy cho học sinh, sinh viên Việt Nam. Tuy nhiên, mỗi tác giả lại có một góc nhìn riêng về ngữ pháp tiếng Việt, chưa có sự thống nhất các quan điểm về tên gọi, phân loại cũng như vị trí của các thành phần câu trong tiếng Việt.
Điều này dẫn đến rất nhiều khó khăn cho học giả muốn tiếp cận, tìm hiểu, học tập và nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói chung và thành phần câu nói riêng. “Phong ba bão táp không bằng ngữ pháp Việt Nam”. Ngữ pháp Việt Nam khó ở chỗ có nhiều trường phái phân tích thành phần câu khác nhau. Phan Khôi (1955) xác định thành phần câu đầy đủ gồm có chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ, bổ túc ngữ, hình dung phụ gia ngữ và phó từ phụ gia ngữ.
Hoàng Tuệ, Lê Cận, Cù Đình Tú (1962) trong “Giáo trình về Việt Ngữ” thì khẳng định thành phần chính của câu là chủ ngữ và vị ngữ, thành phần phụ là bổ ngữ và định ngữ. Đồng thời, các tác giả xếp các thành phần như tân ngữ, bổ túc ngữ, minh xác ngữ, trạng ngữ vào nhóm bổ ngữ. Nguyễn Văn Hiệp (2014) nhận định cả ba thành phần chủ ngữ, vị ngữ và bổ ngữ đều là thành phần chính của câu và khái niệm tân ngữ không được nhắc đến trong quá trình phân tích thành phần câu. Diệp Quang Ban (2015) thì cho rằng tân ngữ và tân ngữ gián tiếp cũng có thể gọi với tên là bổ ngữ trực tiếp và bổ ngữ gián tiếp.
Vậy thì tân ngữ là gì? Nằm ở vị trí nào trong cấu trúc câu? Là thành phần chính, thành phần phụ của câu hay của cụm từ? Tân ngữ giống hay khác bổ ngữ, nếu khác thì khác như thế nào? Nhiều câu hỏi đặt ra vẫn còn bỏ ngỏ, chưa có câu trả lời cụ thể, chi tiết. Mảng tân ngữ khá phức tạp, chưa được đào sâu, cũng như chưa được làm rõ một số vấn đề nên rất cần những nghiên cứu bổ sung. Vì thế, việc nghiên cứu 2 tân ngữ Tiếng Việt và so sánh với tân ngữ các ngôn ngữ khác cụ thể là tiếng Trung là việc làm hết sức cần thiết của người làm nghiên cứu ngôn ngữ. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU 1.
Mục đích nghiên cứu • Giúp những người muốn tiếp cận, tìm hiểu, nghiên cứu và học tập tiếng Việt nắm được tính chất, cấu tạo của tân ngữ, nhận biết và phân biệt được tân ngữ với thành phần dễ gây nhầm lẫn trong cấu trúc câu là bổ ngữ. Hướng đến việc có thể nắm bắt, dễ dàng vận dụng ngữ pháp tiếng Việt, từ đó có thể sử dụng tiếng Việt thành thạo hơn, giao tiếp hiệu quả hơn. • Chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt giữa tân ngữ tiếng Việt và tiếng Trung, tìm ra quan hệ đối ứng giữa hai ngôn ngữ. Từ đó, làm cơ sở để những người Trung Quốc muốn học tiếng Việt có hướng tiếp cận thành phần tân ngữ dễ dàng, thuận lợi hơn.
• Làm giàu thêm lĩnh vực nghiên cứu ngữ pháp và cùng nhìn lại đặc điểm ngữ pháp tiếng Việt một cách rõ ràng hơn. • Góp phần hoàn thiện, phong phú thêm hệ thống ngữ pháp tiếng Việt; nâng cao chất lượng giảng dạy về ngôn ngữ, nâng cao trình độ nghiên cứu, làm giàu thêm các quan điểm về ngôn ngữ học; có thể cung cấp cho người học, người nghiên cứu nguồn tài liệu tham khảo liên quan. Nhiệm vụ nghiên cứu Giải quyết các vấn đề nghiên cứu: • Chỉ ra những điểm bất cập của các công trình nghiên cứu trước. • Nêu rõ tính chất, thành phần cấu tạo tân ngữ tiếng Việt và các mối quan hệ ngữ nghĩa giữa động từ và tân ngữ (cấu trúc động tân).
• Phân biệt thành phần tân ngữ với bổ ngữ trong tiếng Việt. • So sánh đối chiếu tân ngữ tiếng Việt với tân ngữ tiếng Trung về mặt tính chất và thành phần cấu tạo. Rút ra kết luận. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1.
Đối tượng nghiên cứu: Tân ngữ tiếng Việt, tân ngữ tiếng Trung 1. Phạm vi nghiên cứu: • Nghiên cứu thành phần tân ngữ trong tiếng Việt về mặt tính chất (định nghĩa), thành phần cấu tạo, phân loại tân ngữ, đối chiếu với tiếng Trung. • Đề tài không nghiên cứu các tân ngữ đảo vị trí trong tiếng Việt và tiếng Trung. • Nguồn ngữ liệu nghiên cứu được thu thập từ nguồn dữ liệu trong các truyện ngắn của các tác giả văn học Việt Nam.
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU • Người học gặp những khó khăn nào khi xác định thành phần tân ngữ trong câu? Sự khác biệt giữa tân ngữ với bổ ngữ trong tiếng Việt? • Điểm giống và khác nhau giữa tân ngữ tiếng Việt và tiếng Trung về mặt tính chất, thành phần cấu tạo và vị trí cú pháp? 1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu và cách tiếp cận sau: • Phương pháp miêu tả: Tham khảo tài liệu nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước. Căn cứ cơ sở lý luận dựa trên sự kết hợp ba bình diện nghiên cứu (ngữ pháp, ngữ nghĩa và ngữ dụng) tiến hành miêu tả toàn diện các đặc điểm và cấu tạo tân ngữ tiếng Việt một cách có hệ thống. Từ góc độ loại cấu trúc, tiến hành phân loại tân ngữ tiếng Việt thông qua các ví dụ minh chứng được trích dẫn từ nguồn dữ liệu trong các tác phẩm truyện ngắn của các tác giả văn học Việt Nam.
• Phương pháp phân tích: Thu thập tài liệu, phân tích đánh giá kết quả nghiên cứu của các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đồng thời chỉ ra những điểm bất cập trong các đề tài nghiên cứu trước. Sau đó hệ thống lại, đưa ra cách tiếp cận 4 khác để làm rõ tính chất, thành phần cấu tạo nên tân ngữ và đánh giá định tính dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu được. • Phương pháp so sánh đối chiếu: Dựa trên cơ sở các kết quả nghiên cứu tân ngữ Tiếng Việt có được, người nghiên cứu tiếp tục tiến hành so sánh, đối chiếu với tân ngữ tiếng Trung nhằm tìm ra sự giống nhau và khác nhau giữa tân ngữ tiếng Việt và tân ngữ tiếng Trung. Từ đó, tiến hành thảo luận nhằm làm rõ quan điểm của các kết quả nghiên cứu, đưa ra giải pháp mới hơn cho việc phân loại tân ngữ với các thành phần khác trong câu theo một hướng đi riêng.
TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU Việc nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt nói chung và nghiên cứu thành phần tân ngữ trong cấu trúc câu nói riêng có ý nghĩa rất lớn trong tiến trình xây dựng và phát triển hệ thống ngữ pháp tiếng Việt. Tân ngữ là một trong những thành phần cú pháp quan trọng của câu nên việc nghiên cứu tân ngữ để ứng dụng vào thực tiễn dạy và học là vô cùng quan trọng và cần thiết. Nhiều nhà Việt ngữ học đã quan tâm, tìm hiểu vấn đề này, các công trình nghiên cứu của các tác giả đã thu được nhiều kết quả đáng trân trọng. Tuy nhiên, lĩnh vực này khá phức tạp và vẫn cần những nghiên cứu bổ sung.
Nhìn nhận lại tân ngữ tiếng Việt dưới một hướng tiếp cận khác, bài viết mong rằng kết quả nghiên cứu có được sẽ góp thêm một góc nhìn mới về tân ngữ tiếng Việt. Góp phần làm sáng tỏ thêm một vài vấn đề còn tồn tại về tính chất, chức năng, thành phần cấu tạo của tân ngữ. Phần nào giải đáp được những thắc mắc của người học, đồng thời cung cấp cho người học, người nghiên cứu có thêm nguồn tài liệu tham khảo liên quan. 5 Chương 2 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.
TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan các kết quả nghiên cứu Tân ngữ là khái niệm không mới khi tìm hiểu ngữ pháp tiếng Việt. Bởi đã có nhiều công trình nghiên cứu thành phần này và các vấn đề liên quan. Trong đó phải kể đến một số tên tuổi như Nguyễn Kim Thản, Cao Xuân Hạo, Diệp Quang Ban, Nguyễn Minh Thuyết, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Lân, Nguyễn Tài Cẩn, các nhà Việt Ngữ học và một số tác giả tiêu biểu khác.
Những đóng góp của các tác giả trước có giá trị cao về mặt chuyên môn và có ý nghĩa rất lớn với ngành ngôn ngữ học. Đó là một bước tiến quan trọng trên con đường thống nhất và hoàn thiện hệ thống ngữ pháp tiếng Việt. Theo thuyết cú bản vị, tác giả Phan Khôi (1955) cho rằng “câu tiếng Việt có 6 thành phần: thành phần chủ yếu gồm chủ ngữ và vị ngữ; thành phần liên đới gồm tân ngữ và bổ túc ngữ; thành phần phụ gia gồm hình dung phụ gia ngữ và phó từ phụ gia ngữ” (tr. Ở đây, tác giả chỉ ra tân ngữ tiếng Việt chỉ là thành phần liên đới, không phải thành phần chính trong câu.
Xét ở phương diện lí luận cú pháp, tác giả Hoàng Tuệ và cộng sự (1962) lại xác định chủ ngữ và vị ngữ là hai thành phần chủ yếu trong câu. Bên cạnh đó, các tác giả cho rằng các thành phần thứ yếu gồm có “định ngữ và bổ ngữ, phạm trù bổ ngữ thì bao gồm: tân ngữ, bổ túc ngữ, minh xác ngữ, trạng ngữ” (tr. Các tác giả định nghĩa “tân ngữ được xác định là loại bổ ngữ đứng ngay sau vị ngữ (tiêu chí hình thức)” (tr. Dựa trên kết quả nghiên cứu này, có thể hiểu tân ngữ là thành phần thứ yếu trong câu thuộc phạm trù bổ ngữ, nằm sau vị ngữ và cũng được xác định theo tiêu chí hình thức là bổ ngữ.
Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Tài Cẩn (1996) chỉ ra thành phần đứng sau động từ trong động ngữ là những thành tố phụ. Các thành tố phụ này gồm có bổ tố 6 và trạng tố. Tương tự, Nguyễn Lân Trung (2011) cũng cho rằng “thành phần sau động từ được gọi chung là phần phụ sau” (tr.227), bao gồm phụ tố sau và bổ tố sau. Xét ở góc độ chức năng cú pháp, tác giả Diệp Quang Ban (2005) nhận định rằng “các yếu tố trong câu tiếng Việt có những nhãn hiệu sau đây: vị tố, chủ ngữ, tân ngữ (trực tiếp và gián tiếp), bổ ngữ, bổ ngữ của chủ ngữ, bổ ngữ của tân ngữ, bổ ngữ của bổ ngữ, đề ngữ, gia ngữ, biệt tố, liên tố” (tr.
Tác giả cho rằng “tên gọi bổ ngữ được dùng làm nhãn chung bao gồm cả tân ngữ khi chưa cần phân biệt tân ngữ với bổ ngữ” (tr.