ĐẶT VẤN ĐỀ Rượu vang là một thức uống truyền thống nổi tiếng của người Pháp đã có mặt ở nhiều nơi trên thế giới và đang dần phổ biến tại Việt Nam. Ngày nay, bên cạnh việc thực hiện quá trình lên men vang tự nhiên với hệ nấm men có sẵn trên nguyên liệu và thiết bị, với sự phát triển của khoa học và công nghệ, việc sử dụng nấm men cố định để lên men vang đã được nghiên cứu và cho thấy tiềm năng ứng dụng vào quy mô công nghiệp. Tăng cường năng suất lên men, dễ dàng áp dụng cho quá trình lên men liên tục [15, 67, 68, 70, 81], ổn định hoạt tính lên men của tế bào, giảm chi phí thu hồi và dễ dàng tái sử dụng tế bào [83, 128, 67, 109] là những ưu điểm nổi bậc của nấm men cố định so với nấm men tự do khi ứng dụng vào công nghệ sản xuất các sản phẩm lên men, trong đó có sản phẩm rượu vang nho. Trong ngành công nghệ lên men thực phẩm thì alginate là chất mang rất thông dụng dùng để cố định tế bào.
Đã có nhiều nghiên cứu sử dụng chất mang alginate để cố định nấm men lên men vang, bia hay ethanol. Tuy nhiên họ chỉ khảo sát động học của quá trình lên men ở chu kì đầu. Hiện có rất ít công trình nghiên cứu về khả năng tái sử dụng của chất mang alginate cố định nấm men và phương pháp làm tăng độ bền của chất mang ứng dụng trong lên men vang. Cellulose vi khuẩn (BC) được xem như một chất mang để cố định vi sinh vật mới có nhiều ưu điểm và tiềm năng.
Tuy nhiên, có rất ít tài liệu nghiên cứu về sử dụng BC để cố định nấm men và ứng dụng trong sản xuất rượu vang. Trên cơ sở đó, chúng tôi đề xuất đề tài “Nghiên cứu khả năng tái sử dụng nấm men cố định trên các loại chất mang alginate và Bacterial Cellulose (BC) vào quá trình lên men chính rượu vang nho”. Chúng tôi sử dụng loại alginate có nguồn gốc từ rong mơ, thuộc giống Sargassum do tiến sĩ Ngô Đăng Nghĩa, Đại học Thủy sản Nha Trang cung cấp và chất mang BC lên men từ môi trường nước dừa sử dụng loài vi khuẩn Acetobacter xylinum do tiến sĩ Nguyễn Thúy Hương, bộ môn Công nghệ Sinh học, trường Đại học Bách Khoa TPHCM cung cấp. Mục đích của đề tài: − Khảo sát khả năng tái sử dụng của nấm men cố định trong hạt gel alginate trong 12 chu kỳ, đồng thời nghiên cứu ảnh hưởng của giải pháp ngâm hạt gel alginate trong dung dịch CaCl2 sau mỗi chu kì lên men đến độ bền của hạt gel và hoạt tính của nấm men cố định trong hạt alginate ứng dụng trong quá trình lên men chính rượu vang nho.
− Khảo sát khả năng tái sử dụng của nấm men cố định trên BC trong 12 chu kỳ ứng dụng trong quá trình lên men chính rượu vang nho. Nội dung thực hiện gồm các nội dung chính: − Tổng quan tài liệu: chất mang alginate và BC, nấm men cố định, tái sử dụng nấm men cố định vào quá trình lên men vang − Khảo sát khả năng tái sử dụng của nấm men cố định trong hạt gel alginate, và nấm men cố định trên BC trong quá trình lên men chính rượu vang nho 5 Báo cáo nghiệm thu đề tài cấp trường 2011 – T. ALGINATE Acid alginic là một polysaccharide đặc biệt có nhiều ở các loại rong nâu Ascophyllum, Fucus, Laminaria, Macrococystys, Sargassum., Alginate là tên gọi chung của các loại muối của acid alginic. Trong rong biển, acid alginic thường tồn tại dưới dạng muối alginate calcium, magnesium, sắt.
Cấu tạo phân tử alginate: −2 gốc monomer là -D-mannuroinic acid (M) và -L-guluronic acid (G). Công thức 2 gốc monomer trong phân tử acid alginic −Hai gốc M và G phân bố trong mạch alginate theo các block. Có 3 loại block: Block homopolyguluronate: gồm các gốc guluronic nối tiếp nhau, G.G Block homopolymannuronate: gồm các gốc mannuronic nối tiếp nhau, M.M Block luân phiên (alternating): gồm 2 gốc luân phiên nối tiếp nhau, M.G Phân đoạn poly guluronic Phân đoạn poly mannuronic Phân đoạn luân phiên Hình 2. Cấu trúc của phân tử alginate Chiều dài các block, sự phân bố của chúng trong mạch alginate phụ thuộc vào loài rong, giai đoạn trưởng thành, các bộ phận và môi trường sống của rong.
Điều này làm cho phân tử alginate rất đa dạng và có tính chất khác nhau [4, 19, 21]. Tỷ lệ M/G của acid alginic từ một số loại rong nâu [21] STT Loài rong % acid mannuronic % acid guluronic Tỷ lệ M/G 1 Ascophyllum nodosum 64.56 6 Báo cáo nghiệm thu đề tài cấp trường 2011 – T. Tính chất của alginate Độ nhớt: Dung dịch alginate có độ nhớt rất cao khi còn nằm trong vách tế bào, nhưng khi được tách chiết, độ nhớt của dung dịch alginate giảm đi đáng kể và phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp tách chiết. Khi kết hợp với các cation hóa trị 1 như Na+, K+, NH4+,… alginate tan trong nước tạo thành một dung dịch có độ nhớt cao.
Alginate có khối lượng phân tử trung bình càng lớn thì độ nhớt dung dịch càng cao. Trong sản xuất người ta có thể tạo ra alginate có độ nhớt theo yêu cầu, biến thiên trong dải rộng từ 10 – 1000 mPa. Độ nhớt của dung dịch alginate còn phụ thuộc vào nhiệt độ. Khi nhiệt độ tăng, độ nhớt giảm 2,5% cho mỗi độ C.
Khi đun nóng rồi làm nguội thì độ nhớt của alginate quay về thấp hơn giá trị ban đầu một ít. Ngược lại, khi hạ thấp nhiệt độ đến điểm đông đặc, sau đó rã đông không làm thay đổi độ nhớt của alginate. Alginate ở dạng bột thành phẩm vẫn tiếp tục bị thủy phân và sau một thời gian bảo quản, độ nhớt của dung dịch alginate giảm đáng kể, (như alginate có độ nhớt trung bình, sau một năm bảo quản ở 330C, độ nhớt giảm 45%) (Dennis, 1987). pH cũng ảnh hưởng đến độ nhớt của dung dịch alginate.
Ở pH < 5, nhóm COO- bắt đầu bị proton hóa thành COOH, làm cho lực đẩy tĩnh điện giữa các chuỗi bị giảm, chúng trở nên gần nhau và tạo liên kết hydro làm tăng độ nhớt của dung dịch. Nếu tiếp tục giảm pH xuống 3 – 4 thì chúng sẽ tạo gel. Độ nhớt của dung dịch alginate không bị ảnh hưởng trong khoảng pH = 5 – 11. Nhưng khi pH > 11, alginate bị depolymer hóa từ từ và làm giảm độ nhớt do liên kết glycosite dễ bị thủy phân trong môi trường kiềm.
Bên cạnh đó, những tác nhân mang gốc tự do cũng có tác dụng oxy hóa làm cho dung dịch alginate giảm độ nhớt [77]. Do có khả năng tạo dung dịch có độ nhớt cao nên alginate được dùng làm chất tạo độ quánh cho các loại crème ổn định dung dịch, tạo độ mềm mại cho thực phẩm. Khả năng tạo gel: Khi cho kết hợp với cation hóa trị cao, sẽ xuất hiện các vùng nối giữa các mạch phân tử trong alginate và tạo gel. Các gel này được hình thành ở nhiệt độ phòng hay bất cứ nhiệt độ nào nhỏ hơn 1000C.
Ion Ca2+ thường được sử dụng tạo gel alginate do giá thành thấp và ít độc hại, thích hợp cho các quy trình công nghiệp hay chuyển hóa sinh học. Tuy nhiên, quá trình tạo gel cũng có thể xảy ra với sự có mặt của một số các ion khác. [77] Phương pháp tạo gel từ bên ngoài: khi nhỏ dung dịch alginate vào dung dịch chứa cation có khả năng tạo gel như Ca2+ thì bề mặt của hạt alginate sẽ lập tức bị gel hóa. Sau đó, các cation này sẽ tiếp tục khuếch tán từ môi trường xung quanh vào bên trong hạt gel làm cho các phân tử alginate ở trong tiếp tục bị gel hóa (hình 2.
Phương pháp này đơn giản, tạo gel nhanh, được sử dụng để cố định enzyme hay tế bào. Tuy nhiên hạt gel có tính đồng thể không cao, phần lớn các phân tử alginate sẽ tập trung trên bề mặt hạt và mật độ của chúng sẽ giảm dần vào bên trong tâm hạt, các hạt gel có hiện tượng co rút trong quá trình tạo hạt. Phương pháp tạo gel từ bên trong: cho các muối có chứa các cation tạo gel như CaCO3, CaSO4, EDTA – Ca, calcium citrate. vào dung dịch alginate.
Sau đó ta sẽ hiệu chỉnh giá trị pH bằng các tác nhân acid hóa như D–glucono– –lacton. Do độ hòa tan của các muối trên phụ thuộc vào pH, nên khi ta thay đổi pH thì ion Ca2+ sẽ được giải phóng dần vào trong dung dịch và tạo gel với alginate (hình 2. Hạt gel tạo thành có tính đồng nhất cao hơn, có thể tạo gel với nhiều hình dạng khác nhau. Với mỗi ion khác nhau thì cấu trúc cơ học của các hạt gel cũng khác nhau, các ion có ái lực càng cao thì có khả năng tạo gel càng chắc: Pb2+ > Cu2+ > Cd2+ > Ba2+ >Sr2+> Ca2+> Co2+ = Ni2+ = Zn2+>Mn2+.
7 Báo cáo nghiệm thu đề tài cấp trường 2011 – T. Cơ chế tạo gel alginate (a) Phương pháp khuếch tán; (b) Phương pháp tạo gel từ bên trong Các yếu tố ảnh hưởng đến độ bền của hạt gel alginate Do quá trình tạo gel được thực hiện bởi sự liên kết giữa các phân tử alginate và ion Ca2+ nên nồng độ Ca2+ sẽ ảnh hưởng đáng kể đến việc tạo gel. Nồng độ dung dịch alginate cũng ảnh hưởng đến quá trình tạo gel, khi nồng độ tăng, số liên kết tạo thành sẽ nhiều, mạng lưới gel nhiều hơn, xốp hơn và giữ nước tốt hơn, sự co rút của hạt gel giảm. Theo một số tác giả, khi khối lượng phân tử alginate lớn hơn 2,4.105 thì độ bền hạt gel không phụ thuộc vào khối lượng phân tử.
Gel alginate thường không tạo thành nếu hàm lượng acid guluronic nhỏ hơn 20-25%. Tính chất của gel alginate phụ thuộc rất lớn vào thành phần của nó. Nếu tỉ lệ mannuronic so với guluronic thấp thì sẽ tạo thành gel rắn chắc; nếu tỉ lệ này cao sẽ tạo thành gel đàn hồi. Độ bền chắc của gel tăng tỉ lệ với khối lượng phân tử polysaccharide khi tăng từ 400-500 kDa [87].
Cấu trúc của hạt gel alginate không bị ảnh hưởng khi pH nằm trong khoảng từ 4 – 10. Khi pH < 4 thì thể tích của hạt sẽ giảm, trong trường hợp pH rất thấp (< 2) thì alginate sẽ kết tủa hình thành các hạt gel rất nhỏ, màu trắng và không đàn hồi. Khi pH > 10 thì thể tích của hạt tăng lên. [77] Độ bền của gel Ca-alginate sẽ giảm khi có mặt của các hợp chất chelate (hợp chất hữu cơ trong đó nguyên tử tạo thành nhiều hơn một liên kết phối trí với các kim loại trong dung dịch) như phosphate, citrate và lactate vì chúng cạnh tranh với Ca trong việc tạo gel.