Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây sầu riêng (Durio zibethinus Murr.) là một trong những loại cây ăn quả đặc sản có giá trị dinh dưỡng cao và đem lại hiệu quả kinh tế lớn cho người dân khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trong những năm gần đây, diện tích thâm canh sầu riêng tại vùng kinh tế này không ngừng gia tăng. Tuy nhiên, cùng với quá trình mở rộng diện tích sản xuất, dịch hại trên cây sầu riêng ngày càng diễn biến phức tạp, trong đó hiện tượng chết cành, chết thân cây xuất hiện phổ biến tại các vùng trồng chuyên canh, gây tổn thất nghiêm trọng về năng suất và làm suy giảm tuổi thọ của vườn cây. Xuất phát từ thực tế sản xuất đó, đề tài “Nghiên cứu tác nhân gây bệnh chết thân, cành sầu riêng” đã được tác giả Trần Bùi Tuệ Thư thực hiện tại Khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.

Mục tiêu và các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể của đề tài bao gồm 4 nội dung:

  1. Điều tra, khảo sát tình hình bệnh chết thân, cành sầu riêng tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
  2. Giám định tác nhân gây bệnh bằng phương pháp nuôi cấy, phân lập và định danh; nghiên cứu một số đặc điểm sinh học như nhiệt độ, độ pH ảnh hưởng đến tác nhân gây bệnh.
  3. Kiểm chứng tác nhân gây bệnh chết thân, cành thông qua phương pháp lây bệnh nhân tạo trên cây sầu riêng trong điều kiện nhà lưới.
  4. Mô tả các đặc điểm hình thái, sinh học và triệu chứng gây hại của loài mọt đục thân, cành sầu riêng; bước đầu tìm hiểu đặc điểm hình thái và sinh học của loài mọt đục thân cành xuất hiện trong vết bệnh nhằm làm rõ mối liên quan giữa mọt đục thân, cành và tác nhân vi sinh vật gây bệnh.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn như sau:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bệnh chết thân, cành sầu riêng; các mẫu nấm phân lập được từ vết bệnh và từ cơ thể côn trùng (Phytophthora sp., Fusarium sp.); loài mọt đục thân, cành xuất hiện tại ổ bệnh (Xyleborus sp.); cây sầu riêng giống Chuồng Bò từ 4 đến 6 tháng tuổi dùng trong thí nghiệm kiểm chứng.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài được triển khai thực hiện từ tháng 2/2011 đến tháng 7/2011.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát thực địa ngoài đồng ruộng tại các vườn sầu riêng thuộc huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang (tập trung tại các địa bàn xã Ngũ Hiệp và xã Tam Bình); các nội dung phân tích, nuôi cấy, giám định và thử nghiệm sinh học được thực hiện tại phòng thí nghiệm Bộ môn Bảo vệ Thực vật thuộc Viện Cây ăn quả Miền Nam (xã Long Định, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thuộc lĩnh vực Nông học, chuyên ngành Bảo vệ thực vật. Đây là công trình nghiên cứu thực nghiệm sinh học nông nghiệp kết hợp khảo sát dịch tễ ngoài đồng ruộng, bao gồm các phương pháp thu thập mẫu thực địa, phân lập nấm, định danh vi sinh vật theo khóa phân loại chuẩn, nuôi nhân tạo côn trùng và bố trí các thí nghiệm sinh học trong phòng thí nghiệm cũng như nhà lưới.

Các quy chuẩn và khóa phân loại tác giả sử dụng gồm:

  • Phương pháp điều tra bệnh ngoài đồng thực hiện theo quy trình của Teresa McMaugh (2005) kết hợp hướng dẫn của Đặng Vũ Thị Thanh và Hà Minh Trung (1997).
  • Thang phân cấp bệnh 4 cấp độ xây dựng dựa trên tiêu chuẩn đánh giá của Đặng Vũ Thị Thanh, Hà Minh Trung (1997) và Burgess cùng cộng sự (2008).
  • Phương pháp giám định nấm hiển vi theo Nguyễn Văn Tuất (1997), kết hợp khóa phân loại của Burgess (1994) đối với chi nấm Fusarium, và tài liệu phân loại của Donald và Olaf (2005) đối với các chi nấm và giả nấm Phytophthora, Pythium.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và tính toán chỉ số bệnh: Khảo sát ngẫu nhiên từ 5 đến 10 cây hoặc theo sơ đồ hình zic-zac tại mỗi vườn; mỗi vườn tiến hành điều tra một lần. Các chỉ tiêu theo dõi gồm tỷ lệ bệnh (TLB %) và chỉ số bệnh (CSB %) theo công thức:

  • TLB (%) = (Số cây bệnh / Tổng số cây điều tra) * 100
  • CSB (%) = [∑(Ni * i) / (N * n)] * 100 Trong đó: Ni là số cây bệnh ở cấp thứ i; i là cấp bệnh tương ứng (1, 2, ..., n); N là tổng số cây điều tra; n là cấp bệnh cao nhất.

Thang phân cấp bệnh theo diện tích vết bệnh trên thân cây:

Cấp bệnh Mức độ biểu hiện triệu chứng
Cấp 1 1% đến 25% diện tích thân cây biểu hiện triệu chứng
Cấp 2 Trên 25% đến 50% diện tích thân cây biểu hiện triệu chứng
Cấp 3 Trên 50% đến 75% diện tích thân cây biểu hiện triệu chứng
Cấp 4 Trên 75% diện tích thân cây biểu hiện triệu chứng

Phương pháp thu mẫu và xử lý nấm bệnh: Mẫu bệnh được lấy tại vùng ranh giới giữa mô bị hoại tử màu nâu và mô khỏe, thu 3 - 4 mẫu trên mỗi cây bệnh, bảo quản trong túi nylon có ký hiệu mã hóa A - B (A là mã số phiếu điều tra, B là thứ tự cây). Tại phòng thí nghiệm, tiến hành tách mọt đục thân ra khỏi mẫu bệnh và cấy mô bệnh lên hai môi trường thạch dinh dưỡng là PDA (Potato Dextrose Agar) và PCA (Potato Carrot Agar).

Phương pháp nghiên cứu côn trùng:

  • Thu nhận và quan sát đặc điểm hình thái mọt dưới kính hiển vi và kính lúp soi nổi.
  • Nuôi sinh học trong các khay nhựa ở điều kiện nhiệt độ phòng, mật độ 30 - 50 cá thể/khay, thức ăn nhân tạo hàng ngày là mía hoặc táo; theo dõi định kỳ 2 lần/ngày.
  • Phân lập nấm từ xác mọt chết theo 2 phương pháp: Phương pháp 1 (khử trùng bề mặt bằng nước cất vô trùng, thấm khô bằng giấy lọc vô trùng rồi cấy cá thể lên môi trường PDA có bổ sung kháng sinh); Phương pháp 2 (nghiền và lắc 50 cá thể chết trong 10 ml nước cất vô trùng bằng máy lắc, dùng pipet hút 20 µl huyền phù cấy vào đĩa petri môi trường PDA có kháng sinh).

Phương pháp bố trí thí nghiệm:

  • Thí nghiệm kiểm chứng gây bệnh nhân tạo trên cây sầu riêng giống Chuồng Bò (4 - 6 tháng tuổi): Bố trí theo khối đầy đủ hoàn toàn ngẫu nhiên (RCBD) trong điều kiện nhà lưới, gồm 7 nghiệm thức (NT), 3 lần lặp lại (LLL), mỗi lần lặp lại là một cây. Các nghiệm thức gồm: NT1 (Phytophthora sp. + mọt); NT2 (Fusarium sp. + mọt); NT3 (Phytophthora sp. + Fusarium sp. + mọt); NT4 (Phytophthora sp. + Fusarium sp.); NT5 (Mọt đục thân, cành); NT6 (Phytophthora sp.); NT7 (Fusarium sp.).
  • Thí nghiệm xác định nhiệt độ thích hợp cho nấm Phytophthora sp. và Fusarium sp.: Bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên (CRD), 7 LLL (mỗi LLL là một đĩa petri đường kính 8 cm chứa 10 ml môi trường PCA đối với Phytophthora sp. hoặc PDA đối với Fusarium sp., cấy khoanh nấm đường kính 5 mm). Đánh giá 8 nghiệm thức nhiệt độ: 15°C, 20°C, 25°C, 30°C, 35°C, 40°C, 45°C và nhiệt độ phòng. Đo đường kính khuẩn lạc tại các thời điểm 48, 96, 144, 192 giờ đối với Phytophthora sp., và 24, 48, 72, 96, 120 giờ đối với Fusarium sp.
  • Thí nghiệm xác định dải pH thích hợp cho nấm Phytophthora sp. và Fusarium sp.: Bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên, 7 LLL, gồm 7 nghiệm thức tương ứng với các giá trị pH: 4,5; 5,0; 5,5; 6,0; 6,5; 7,0; 7,5. Đặt ở nhiệt độ phòng và đo đường kính khuẩn lạc theo các mốc thời gian tương ứng.
  • Thí nghiệm đánh giá khả năng ức chế nấm Fusarium sp. của thuốc hóa học và sinh học in vitro: Bố trí hoàn toàn ngẫu nhiên với 7 LLL và 7 nghiệm thức (6 loại thuốc và 1 đối chứng không dùng thuốc). Thuốc được hòa vào môi trường khi nhiệt độ hạ dưới 60°C trước khi đổ đĩa.

Nguồn dữ liệu và phân tích thống kê: Dữ liệu được thu thập từ sổ ghi chép điều tra đồng ruộng, nhật ký đo đạc mẫu hiển vi và các thí nghiệm lặp lại. Số liệu thô được nhập và quản lý bằng Microsoft Excel, sau đó được phân tích phương sai ANOVA 1.0 và so sánh sự sai khác có ý nghĩa thống kê bằng trắc nghiệm LSD hoặc Duncan thông qua phần mềm MSTAT-C.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả nêu rõ giá trị kinh tế của sầu riêng tại Đồng bằng sông Cửu Long và sự gia tăng nhanh chóng về diện tích canh tác. Phần này đặt ra tính cấp thiết của việc tìm ra nguyên nhân gây bệnh chết thân, cành; xác lập mục tiêu, đối tượng, thời gian nghiên cứu (tháng 2/2011 đến tháng 7/2011) và địa điểm thực nghiệm tại huyện Cai Lậy cùng Viện Cây ăn quả Miền Nam.

Phần 2: Vật liệu và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết hệ thống thiết bị phòng thí nghiệm bao gồm tủ cấy vô trùng, tủ sấy tiệt trùng, nồi hấp áp lực, cân phân tích, máy đo pH, tủ điều nhiệt, kính hiển vi quang học và huỳnh quang, máy lắc, lò vi ba; các môi trường dinh dưỡng PCA, PDA. Tác giả cũng thiết lập các thông số về nồng độ và liều lượng sử dụng của các loại thuốc thử nghiệm:

Tên thuốc thử nghiệm Dạng thuốc Liều lượng sử dụng Nồng độ tương ứng
Acti No Vate 1 SP 0,5 g/lít 500 ppm
Aliette 80 WP 2,5 g/lít 2500 ppm
Funomyl 50 WP 0,625 g/lít 6250 ppm
Norshield (Đồng đỏ) 86,2 WP 1,6 g/lít 1600 ppm
Ridomil Gold 68 WP 5,0 g/lít 5000 ppm
Vôi nông nghiệp Bột 10,0 g/lít 10000 ppm

Phần này hoàn thiện quy trình bố trí các thí nghiệm sinh học, kỹ thuật phân lập nấm, phương pháp nuôi côn trùng nhân tạo và các công thức toán học tính toán dịch tễ học cây trồng.

Phần 3: Kết quả và thảo luận

Chương này tập hợp toàn bộ các số liệu khảo sát dịch tễ, kết quả phân lập vi sinh vật và định danh côn trùng:

Điều tra thành phần dịch hại tại huyện Cai Lậy: Kết quả điều tra tại 20 vườn sầu riêng cho thấy sự xuất hiện của 6 nhóm côn trùng và nhện gây hại chính:

Tên côn trùng/nhện hại Bộ phận bị hại trên cây Số vườn xuất hiện (trên 20 vườn) Tỷ lệ xuất hiện (%)
Xén tóc đục thân, cành Thân, cành 20 100
Rầy phấn Đọt non, lá non 15 75
Mọt đục thân, cành Thân, cành 13 65
Rệp sáp Đọt non, lá non 7 35
Nhện Đọt non, lá non 6 30
Sâu đục trái Trái non 4 20

Kết quả phân lập và định danh nấm từ mô bệnh: Từ 65 mẫu bệnh thu thập tại 13 vườn, tác giả phân lập được hai loài nấm gây bệnh chủ yếu là Fusarium sp. và Phytophthora sp.

  • Nấm Fusarium sp.: Khuẩn lạc phát triển rõ rệt ở mốc 144 giờ, hình thành sợi nấm đặc trưng, có hai dạng bào tử gồm bào tử hình elip có một vách ngăn và bào tử hình trứng không có vách ngăn.
  • Nấm Phytophthora sp.: Khuẩn lạc phát triển tạo noãn bào tử dạng tròn.
  • Tỷ lệ phân lập nấm từ mẫu mô bệnh tại 2 xã điều tra:
    • Tại Ngũ Hiệp: Phytophthora sp. đạt 42 mẫu (chiếm 70%), trong đó Phytophthora palmivora đạt 32 mẫu (chiếm 53,3%).
    • Tại Tam Bình: Phytophthora sp. đạt 3 mẫu (chiếm 60,0%), trong đó Phytophthora palmivora đạt 3 mẫu (chiếm 60,0%).

Kết quả phân lập nấm mang trên cá thể mọt đục thân, cành bị chết:

  • Tại Ngũ Hiệp: Fusarium sp. đạt 46 mẫu (chiếm 76,6%); Phytophthora sp. đạt 19 mẫu (chiếm 31,7%); không phân lập được Phytophthora palmivora (0%).
  • Tại Tam Bình: Fusarium sp. đạt 3 mẫu (chiếm 60,0%); Phytophthora sp. đạt 1 mẫu (chiếm 20,0%); không phân lập được Phytophthora palmivora (0%).

Đặc điểm hình thái, sinh học và định danh loài mọt đục thân cành: Căn cứ vào cấu tạo cơ thể và tập tính gây hại, loài mọt được định danh là Xyleborus sp. thuộc bộ Cánh cứng (Coleoptera):

  • Thành trùng: Cơ thể hình trụ, con cái màu nâu đến nâu sậm, con đực màu đen; toàn thân có nhiều lông tơ nhỏ; đầu mang 2 râu ngắn dạng hình chùy gồm 3 - 5 đốt.
  • Trứng: Hình bầu dục, màu trắng đục khi mới đẻ, đẻ thành từng cụm từ 5 đến 10 trứng trong đường đục ở vỏ cây; thời gian ủ trứng kéo dài từ 5 đến 7 ngày.
  • Ấu trùng: Không chân, màu trắng, có lông tơ bao phủ, thân hơi cong.
  • Nhộng: Thuộc dạng nhộng trần, màu trắng sữa, hình thành ngay trong đường đục của thành trùng.
  • Kích thước đo đạc các giai đoạn phát triển (quan sát trên 10 cá thể, đơn vị mm):
Giai đoạn phát triển Chiều dài trung bình (mm) Chiều rộng trung bình (mm)
Trứng 0,325 ± 0,025 0,150 ± 0,020
Ấu trùng tuổi cuối 2,200 ± 0,300 0,375 ± 0,075
Nhộng 2,350 ± 0,150 0,450 ± 0,050
Thành trùng đực 2,465 ± 0,085 0,560 ± 0,090
Thành trùng cái 2,475 ± 0,125 0,525 ± 0,075
  • Triệu chứng gây hại: Mọt tạo ra các đường đục sâu trong thân gỗ và dưới lớp vỏ cây, biểu hiện các lỗ đùn mạt cưa ra bề mặt ngoài thân, làm đứt mạch dẫn và tạo điều kiện trực tiếp cho nấm xâm nhập.

Phần 4: Kết luận và đề nghị

Tổng hợp các phát hiện chính về hai nhóm nấm Phytophthora sp. và Fusarium sp., xác định loài mọt Xyleborus sp. vừa là đối tượng gây hại cơ học vừa mang mầm nấm gây bệnh; đưa ra đề xuất tiếp tục theo dõi các thí nghiệm kiểm chứng lây nhiễm và hoàn thiện biện pháp phòng trừ phối hợp.

Kết quả và đóng góp

Văn bản khóa luận đã ghi nhận các kết quả cụ thể sau:

  • Khảo sát thực trạng dịch hại: Xác định xén tóc đục thân cành hiện diện ở 100% số vườn điều tra, tiếp theo là rầy phấn (75%) và mọt đục thân cành (65%).
  • Định danh chính xác tác nhân vi nấm: Xác định bệnh chết thân, cành sầu riêng do hai chi nấm chính là Phytophthora sp. (trong đó có loài P. palmivora) và Fusarium sp. gây ra; tỷ lệ phân lập Phytophthora sp. trên mô bệnh đạt từ 60,0% đến 70,0%.
  • Xác định vai trò của côn trùng môi giới: Chứng minh loài mọt đục thân, cành Xyleborus sp. có mang mầm mống nấm bệnh trên cơ thể với tỷ lệ phân lập từ xác mọt đạt 60,0% - 76,6% đối với Fusarium sp. và 20,0% - 31,7% đối với Phytophthora sp.
  • Hoàn thiện số liệu sinh học vi học: Cung cấp đầy đủ các chỉ số kích thước hiển vi của trứng, ấu trùng tuổi cuối, nhộng và thành trùng đực/cái của loài mọt Xyleborus sp. trên cây sầu riêng tại địa phương.
  • Đóng góp khoa học: Làm rõ mối liên hệ cộng sinh/đồng hành giữa hiện tượng mọt đục thân cành (Xyleborus sp.) và sự lây nhiễm nấm bệnh hoại tử thân (Fusarium sp. và Phytophthora sp.), giúp chuyển đổi hướng tiếp cận quản lý bệnh từ đơn lẻ (chỉ phun thuốc trừ nấm) sang biện pháp quản lý dịch hại tổng hợp kết hợp diệt trừ côn trùng đục thân.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài:

  • Thời gian nghiên cứu giới hạn trong 6 tháng (từ tháng 2/2011 đến tháng 7/2011), chưa bao quát được toàn bộ các mùa trong năm và diễn biến dịch bệnh theo các giai đoạn thời tiết khác nhau.
  • Phạm vi khảo sát thực địa chỉ tập trung tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang trên hai xã Ngũ Hiệp và Tam Bình, chưa mở rộng ra các vùng trồng sầu riêng lân cận của Đồng bằng sông Cửu Long.
  • Các thí nghiệm về nhiệt độ, pH và hiệu lực thuốc phòng trừ đối với nấm mới dừng lại ở quy mô in vitro trong phòng thí nghiệm và nhà lưới, chưa phản ánh đầy đủ tác động phức tạp của môi trường đồng ruộng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi điều tra sự phân bố của mọt Xyleborus sp. và các chủng nấm bệnh trên các vùng chuyên canh sầu riêng khác.
  • Theo dõi dài hạn các triệu chứng biểu hiện của cây sầu riêng từ thí nghiệm kiểm chứng lây bệnh nhân tạo trong nhà lưới ra ngoài đồng ruộng.
  • Triển khai khảo nghiệm diện rộng ngoài đồng ruộng đối với các loại thuốc hóa học và sinh học có khả năng ức chế nấm và trừ mọt để xây dựng quy trình phòng trừ tổng hợp hiệu quả.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận này mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng:

  • Sinh viên, học viên cao học và cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Bảo vệ thực vật, Nông học, Bệnh cây học và Côn trùng học nông nghiệp: Cung cấp quy trình bài bản về phương pháp phân lập nấm từ mô gỗ, phương pháp khử trùng và tách nấm từ cơ thể côn trùng cánh cứng, cũng như quy trình bố trí thí nghiệm khối ngẫu nhiên (RCBD) trong nhà lưới.
  • Cán bộ kỹ thuật nông nghiệp và khuyến nông viên tại các vùng trồng sầu riêng: Tham khảo dữ liệu về tập tính gây hại, triệu chứng ngoài đồng của mọt Xyleborus sp., thang phân cấp bệnh 4 cấp độ và danh mục các hoạt chất thuốc phòng trừ thử nghiệm.
  • Nhà vườn canh tác sầu riêng: Giúp nhận diện sớm triệu chứng đùn mạt cưa, vết bệnh nâu trên vỏ thân và hiểu rõ mối nguy từ mọt đục thân để có biện pháp can thiệp sớm, không chỉ xử lý nấm đơn thuần khi cành đã bị chết khô.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tác nhân nấm nào được phân lập chính từ các mẫu bệnh chết thân, cành sầu riêng tại Cai Lậy? Trả lời: Từ 65 mẫu bệnh thu thập tại 13 vườn thuộc huyện Cai Lậy, hai tác nhân nấm chính được phân lập là Phytophthora sp. (bao gồm loài Phytophthora palmivora) và Fusarium sp. Trong đó, tỷ lệ phân lập Phytophthora sp. trên mô bệnh đạt 70% tại Ngũ Hiệp và 60% tại Tam Bình.

Câu hỏi 2: Loài mọt xuất hiện tại các vết đục thân cành sầu riêng được định danh là loài nào và có đặc điểm hình thái ra sao? Trả lời: Loài mọt đục thân, cành được định danh là Xyleborus sp. thuộc bộ Cánh cứng. Thành trùng có cơ thể hình trụ với nhiều lông tơ nhỏ bao phủ, con cái có màu nâu đến nâu sậm (chiều dài 2,475 ± 0,125 mm), con đực có màu đen (chiều dài 2,465 ± 0,085 mm), đầu mang 2 râu ngắn dạng hình chùy có từ 3 đến 5 đốt.

Câu hỏi 3: Trong số các loài côn trùng và nhện hại được điều tra tại 20 vườn sầu riêng ở Cai Lậy, loài nào có tỷ lệ xuất hiện cao nhất? Trả lời: Xén tóc đục thân, cành là loài có mức độ phổ biến cao nhất, xuất hiện ở 20/20 vườn điều tra (đạt tỷ lệ 100%). Tiếp theo là rầy phấn hại đọt non, lá non với 15/20 vườn (75%) và mọt đục thân, cành với 13/20 vườn (65%).

Câu hỏi 4: Kết quả phân lập vi sinh vật từ các cá thể mọt đục thân bị chết ghi nhận điều gì? Trả lời: Tác giả đã phân lập thành công nấm bệnh từ cơ thể mọt chết, với nấm Fusarium sp. chiếm tỷ lệ rất cao (76,6% tại Ngũ Hiệp và 60,0% tại Tam Bình), nấm Phytophthora sp. đạt 31,7% tại Ngũ Hiệp và 20,0% tại Tam Bình; riêng loài Phytophthora palmivora không phân lập được từ xác mọt (0%).

Câu hỏi 5: Những loại thuốc nào được đưa vào thí nghiệm đánh giá hiệu lực ức chế nấm Fusarium sp. trong phòng thí nghiệm? Trả lời: Thí nghiệm in vitro sử dụng 6 loại thuốc hóa học, sinh học và khoáng chất gồm: Acti No Vate 1SP (0,5 g/lít), Aliette 80 WP (2,5 g/lít), Funomyl 50 WP (0,625 g/lít), Norshield 86,2 WP (1,6 g/lít), Ridomil Gold 68 WP (5,0 g/lít), Vôi nông nghiệp (10,0 g/lít), cùng 1 nghiệm thức đối chứng không sử dụng thuốc.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Trần Bùi Tuệ Thư đã xác định được nguyên nhân chính gây bệnh chết thân, cành sầu riêng tại huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là do sự tấn công của hai nhóm nấm Phytophthora sp. và Fusarium sp. Nghiên cứu đã chứng minh vai trò mở đường và truyền mang mầm bệnh của loài mọt đục thân Xyleborus sp., đồng thời hoàn thiện hệ thống thông số hình thái, sinh học của loài côn trùng này. Đây là cơ sở thực nghiệm quan trọng hỗ trợ việc thiết lập các giải pháp quản lý dịch hại tổng hợp, bảo vệ các vùng chuyên canh cây sầu riêng tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.