MỞ ĐẦU Sâm Việt Nam (còn gọi là Sâm Ngọc linh, Sâm Khu 5, Sâm Đốt Trúc) đƣợc tìm thấy ở vùng núi Ngọc Linh tỉnh Kon Tum vào năm 1973. Đến năm 1985, đƣợc xác định tên khoa học là Panax vietnamensis Ha et Grushv., họ Nhân sâm (Araliaceae) [3]. Hiện nay, Sâm Việt Nam cũng đƣợc lựa chọn là cây thuốc hàng đầu trong danh mục sản phẩm quốc gia. Năm 2011, Bộ Y Tế đã triển khai xây dựng đề án: “Chƣơng trình quốc gia bảo tồn, phát triển nguồn dƣợc liệu trong nƣớc và các sản phẩm từ dƣợc liệu giai đoạn từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030.
Xây dựng hồ sơ 40 dƣợc liệu có tiềm năng khai thác và phát triển thị trƣờng”. Trong đó cây Sâm Việt Nam đƣợc chọn đứng vị trí đầu tiên trong danh sách. Bên cạnh đó, theo Quyết định số 787/QĐ/TTg ngày 05/6/2017 của Thủ tƣớng chính phủ, Sâm Việt Nam là sản phẩm thuộc chƣơng trình phát triển sản phẩm quốc gia đến năm 2020. Sâm Việt Nam đƣợc thế giới biết đến nhƣ là một loài Sâm mới và có giá trị cao nhƣ Nhân Sâm.
Hiện nay, Sâm Việt Nam đƣợc trồng tại một số vùng đặc hữu nhƣ Kon Tum và Quảng Nam. Trên thị trƣờng, Sâm Việt Nam thƣờng bị giả mạo bởi những dƣợc liệu khác, nhiều trƣờng hợp không những không có tác dụng điều trị mà còn có thể gây độc hại cho ngƣời dùng. Vì vậy việc kiểm nghiệm đánh giá chất lƣợng Sâm Việt Nam là cần thiết. Bên cạnh đó, sự phát hiện một thứ của cây Sâm Việt Nam là Panax vietnamensis var.
Fuscidiscus có hình thái giống Sâm Việt Nam, mọc hoang tại Vân Nam thuộc Trung Quốc và Lai Châu của Việt Nam. Cây sâm này đã đƣợc đánh giá bƣớc đầu bằng phƣơng pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) cho thấy trong thành phần saponin có nhóm ocotillol nhƣ Sâm Việt Nam [33]. Saponin nhóm ocotillol chỉ phát hiện trong Sâm Việt Nam mà không có trong Nhân sâm gồm một số hợp chất tiêu biểu nhƣ majonosid-R2, vinaginsenosid-R1, vinaginsenosid-R2,.Tuy nhiên, vài nghiên cứu trƣớc đã công bố phƣơng pháp định lƣợng một số saponin thuộc nhóm này bằng phƣơng pháp HPLC với detector dãy diod quang (DAD) hay detector tán xạ ánh sáng bay hơi (ELSD) [75] nhƣng vẫn 2 chƣa xác định chính xác hàm lƣợng riêng biệt từng chất nhƣ vinaginsenosid-R2. Do đó, việc nghiên cứu phƣơng pháp định lƣợng các saponin thuộc nhóm ocotillol góp phần tiêu chuẩn hóa và xây dựng thƣơng hiệu quốc gia về Sâm Việt Nam là vấn đề cấp thiết.
Về mặt tác dụng dƣợc lý, các kết quả nghiên cứu trƣớc đây đƣợc tiến hành trên mẫu Sâm Việt Nam mọc hoang với nhiều tác dụng nhƣ: tăng lực, chống stress, bảo vệ gan, cải thiện trí nhớ [3], [51], [53]. Tuy nhiên, hiện nay nguồn sâm sử dụng trên thị trƣờng chủ yếu là từ nguồn sâm trồng. Cho đến nay, chƣa có nghiên cứu một cách hệ thống về tác dụng dƣợc lý của Sâm Việt Nam trồng, nếu sử dụng các kết quả nghiên cứu trƣớc đây của sâm mọc hoang cho sâm trồng thì sẽ không thuyết phục. Vì các lý do cần thiết trên, tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu tiêu chuẩn hóa và đánh giá một số tác dụng sinh học của Sâm Việt Nam”.
Đề tài đƣợc thực hiện với các mục tiêu nghiên cứu: 1. Xây dựng và đánh giá quy trình định lƣợng đồng thời một số saponin chính trong Sâm Việt Nam trồng bằng phƣơng pháp sắc ký lỏng ghép phổ khối (HPLC-MS) và phƣơng pháp sắc ký lỏng với detector dãy diod quang (HPLC– DAD). Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn Sâm Việt Nam trồng. Đánh giá một số tác dụng sinh học của Sâm Việt Nam trồng 6 năm tuổi: - Tác dụng tăng lực của cao Sâm Việt Nam trồng 6 tuổi.
- Tác dụng bảo vệ gan của cao Sâm Việt Nam trồng 6 tuổi. - Tác dụng chống stress tâm lý của cao Sâm Việt Nam trồng 6 tuổi. - Tác dụng chống stress tâm lý của một số saponin thuộc nhóm ocotillol. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
TỔNG QUAN VỀ CHI PANAX 1. Phân loại thực vật chi Panax Hiện nay, một số nhà thực vật học đã nghiên cứu phân loại các loài thuộc chi Panax. Tuy nhiên, theo thời gian sự phân loại này có nhiều thay đổi. Theo The Plant list (Bảng 1.1), có 13 loài thuộc chi Panax đƣợc chấp nhận [146].
Tại Việt Nam có 4 loài thuộc chi Panax (P.) đƣợc công bố là Sâm vũ diệp (P.Chen), Tam thất hoang (P. Feng) và Sâm Việt Nam (P. vietnamensis Ha et Grushv. Các loài sâm đƣợc chấp nhận thuộc chi Panax STT Tên loài Tên Tiếng việt Phân bố 1 P.
Sâm vũ diệp Nam Trung Quốc, Bắc Việt Nam 2 P. Meyer Nhân sâm Đông Bắc Á 4 P. Meyer Sâm Nhật Nhật Bản và Nam Trung Quốc 5 P. Chen Tam thất Vân Nam, Trung Quốc 6 P.
Sâm Mỹ Bắc Mỹ 8 P.Sharma & Pandit Himalaya 9 P. Feng Tam thất hoang Bắc Việt Nam 10 P. Sâm lùn Bắc Mỹ 11 P. vietnamensis Ha et Grushv.
Sâm Việt Nam Núi Ngọc Linh, Việt Nam 12 P. Feng Sâm gừng Nam Trung Quốc 1. Thành phần hóa học các loài thuộc chi Panax 1. Thành phần hóa học Trong các loài thuộc chi Panax, thành phần hoá học chủ yếu là saponin, polysaccharid, polyacetylen, acid béo, acid amin, nguyên tố đa và vi lƣợng [139].
4 Saponin: Hay còn gọi là sapogenin glycosid là dạng glycosid bao gồm phần sapogenin có cấu trúc steroid hay triterpen gắn với một hay nhiều phân tử đƣờng. Ginsenosid là nhóm saponin triterpen của các loài thuộc chi Panax đƣợc nghiên cứu rất nhiều hóa học cũng nhƣ tác dụng dƣợc lý, kết quả cho thấy ginsenosid là thành phần hoạt tính của sâm. Saponin của sâm thƣờng đƣợc sử dụng làm chất đánh dấu để đánh giá chất lƣợng các loài sâm và các sản phẩm liên quan [32]. Polysaccharid: Nhóm hợp chất tan trong nƣớc là những polysaccharid acid, có hoạt tính chống phân bào và tăng cƣờng miễn dịch.
Những nghiên cứu gần đây cho thấy polysaccharid acid nhƣ ginsan có hoạt tính kích thích hệ miễn dịch [32]. Polyacetylen: Nhóm hợp chất hữu cơ với nối đôi và nối ba liên hợp. Hai polyacetylen chính trong Nhân sâm là panaxynol và falcarintrol (panaxytriol). Ngoài ra, acetyl panaxydol and panaxydolchlorohydrin đƣợc phân lập từ Nhân sâm.
Flavonoid và tinh dầu: Bên cạnh nhóm hợp chất liệt kê trên, một vài flavonoid và tinh dầu đã đƣợc phân lập và định danh từ các loài thuộc chi Panax. Thành phần saponin của các loài thuộc chi Panax Các saponin trong chi Panax đƣợc phân loại cơ bản theo cấu trúc khung genin (dammaran, olean) và theo mạch nhánh C-17 khác nhau. Bên cạnh đó còn có một vài saponin không thuộc cấu trúc này đƣợc liệt kê vào mục saponin cấu trúc khác. Khung dammaran: Saponin nhóm này đƣợc phân chia thành 3 nhóm (Hình 1.1) gồm có nhóm Protopanaxadiol (PPD): Ginsenosid-Ra1, -Ra2, -Ra3, -Rb1, -Rb2, -Rb3, notoginsenosid-Rs1, -Rs2, quinquenosid-R1, malonyl-ginsenosid- Rb1, -Rb2, -Rc và -Rd.
Đây là nhóm ginsenosid có nhiều thành phần nhất trong các cấu trúc dammaran của chi Panax. Protopanaxatriol (PPT): Gồm các ginsenosid chính là G- Re, -Rf, -Rg1 và N-R1, N-R2. Sự khác biệt chính của PPT và PPD là sự hiện diện của nhóm hydroxyl hay đƣờng gắn vào vị trí C-6 của PPT. Ocotillol (OCT): Nhóm này có vòng epoxy gắn vào vị trí C-20.
Majonosid-R2 trong Sâm Việt Nam là đại diện cho nhóm này. Saponin cấu trúc acid oleanolic (OA): Saponin nhóm này có phần aglycon có cấu trúc bao gồm các chikuset-susaponin và đại diện là G-Ro là triterpen 5 vòng [32], [139]. Saponin có mạch nhánh C-17 khác nhau chiếm hơn 5 50% các saponin phân lập từ các loài Panax. Ngoài ra, còn có các saponin có khung không phổ biến khác.
Khung cơ bản của các saponin thuộc chi Panax Từ năm 1963 - 2014, có 289 saponin đã đƣợc phân lập từ các loài thuộc chi Panax. Saponin có khung PPD và PPT phổ biến trong các loài Panax, trong khi nhóm ocotillol ít hơn và còn lại rất ít là saponin có cấu trúc acid oleanolic [139], [140]. Phƣơng pháp xác định saponin trong loài thuộc chi Panax Saponin trong chi Panax đƣợc chứng minh là thành phần chính thể hiện tác dụng dƣợc lý. Do đó, saponin đƣợc xem là chỉ số đánh giá chất lƣợng của sâm và sản phẩm đƣợc bào chế từ sâm.
Hiện nay, nhiều phƣơng pháp phân tích đã đƣợc nghiên cứu và phát triển định lƣợng saponin trong chi Panax. Saponin đƣợc định lƣợng bằng phƣơng pháp HPLC kết hợp với detector là UV [56] hay detector tán xạ bay hơi (ELSD) [66]. Saponin trong chi Panax có cấu trúc đa dạng, do có cấu trúc khá tƣơng đồng chỉ khác nhau cấu tạo phần đƣờng, sắc ký lỏng kết hợp với detector phổ khối (LC-MS) là phƣơng pháp hiện đại và hiệu quả để phân tích saponin [130]. Sự liên quan giữa cấu trúc và hoạt tính chống oxy hóa của ginsenosid Ginsenosid đã đƣợc xem là thành phần chính thể hiện tác dụng dƣợc lý của chi Panax, tác dụng chống oxy hóa của ginsenosid trên in vivo đã đƣợc công bố.
Tại sao khả năng chống oxy hóa của các ginsenosid lại khác nhau, một số công bố nghiên cứu đánh giá về sự liên quan giữa cấu trúc và tác dụng chống oxy hóa của ginsenosid. Liu và cộng sự (CS.) đã nghiên cứu mối liên quan cấu trúc và tác dụng của 11 ginsenosid thuộc 2 nhóm PPD, PPT và sapogenin của chúng dựa trên AAPH (2,2‟- azobis (2-amidinopropane hydrochlorid)) – là yếu tố gây tán huyết hồng cầu của ngƣời; AAPH cung cấp gốc tự do peroxyl (ROO•) với một tỷ lệ ổn định tại nhiệt độ 37 °C [86]. Tác dụng của sapogenin trên sự tán huyết hồng cầu của người gây bởi AAPH Sapogenin (khung dammaran triterpen) sau khi loại bỏ các gốc đƣờng, còn lại khung PPD và PPT. Khi gia tăng nồng độ sapogenin nhóm PPD hay PPT đều làm tăng tỷ lệ tán huyết gây bởi AAPH, thậm chí khi không có AAPH thì sapogenin PPD cũng gây tán huyết trên hồng cầu.
Các sapogenin thể hiện tác dụng nhƣ chất tiền oxy hóa [86]. Tác dụng của các ginsenosid trên sự tán huyết hồng cầu của người gây bởi AAPH Nhóm PPD có chuỗi đƣờng gắn vào vị trí số 3 trên khung dammaran triterpen gồm có ginsenosid Rg3, G-Rd, G-Rc, G-Rh2, G-Rb1 và G-Rb3. Nhóm PPT có chuỗi đƣờng gắn vào vị trí số 3 trên khung dammaran triterpen gồm G-Rg1, G-Rg2, G- Rh1, G-Re và G-R1. Khi có sự gia tăng nồng độ của ginsenosid-Rg3 hay G-Rh2 thì sự tán huyết cũng gia tăng; G-Rg2 ở nồng độ cao có thể ngăn chặn sự tán huyết.
Do đó G-Rg3, G-Rh2 và G-Rg2 có tác dụng nhƣ là chất tiền oxy hóa. Các G-Rb1, G- Rc, G-R1, G-Rd, G-Re, G-Rb3, G-Rg1 và G-Rh1 có tác dụng giảm tỷ lệ tán huyết gây bởi AAPH. Các ginsenosid này có tác dụng nhƣ chất chống oxy hóa [86].