MỞ ĐẦU Theo thống kê của Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (International Agency for Research on Cancer – IARC ) năm 2018, toàn thế giới có 18,08 triệu người mới mắc ung thư, trong đó có trên 9,5 triệu người tử vong vì căn bệnh này. Số ca mới mắc ung thư ở Việt Nam ước tính là 164.671 ca và số ca tử vong là 114. Các loại ung thư phổ biến ở nam giới lần lượt là ung thư gan (21,5%), ung thư phổi (18,4%), dạ dày (12,3%), đại trực tràng (8,4%) và ung thư vòm họng (5%); ở nữ giới lần lượt là ung thư vú (20,6%), đại trực tràng (9,6%), ung thư phổi (9,4%), dạ dày (8,6%) và gan (7,8%). Tỷ lệ mắc ung thư chuẩn hóa theo tuổi ở cả hai giới là 151,4/ 100.000 người và tỉ lệ tử vong là 104,4/100.
Tại Việt Nam, ước tính có khoảng 70% bệnh nhân ung thư chẩn đoán giai đoạn muộn (III hoặc IV), trong đó có cả các bệnh thể sàng lọc, phát hiện sớm bằng nhiều phương pháp khác nhau. Hiện nay, việc điều trị ung thư chủ yếu dựa trên hai phương pháp cơ bản đó là phương pháp truyền thống và phương pháp hiện đại. Ở phương pháp hiện đại, người ta sử dụng hai phương pháp chính đó là: phương pháp điều trị trúng đích (sử dụng các liệu pháp kháng thể đơn dòng) và phương pháp miễn dịch (sử dụng liệu pháp miễn dich hoặc liệu pháp tế bào gốc). Ngoài ra, ung thư còn được điều trị theo phương pháp truyền thống.
Trong phương pháp truyền thống thì chủ yếu dựa trên ba phương pháp cơ bản, gồm phẫu thuật cắt bỏ khối u (có thể kết hợp với hóa trị hoặc xạ trị), xạ trị (sử dụng tia xạ để tiêu diệt khối u) và hóa trị (sử dụng hóa chất gây độc để tiêu diệt tế bào ung thư). Bên cạnh việc sử dụng các phương pháp trên thì việc sử dụng các dược liệu tự nhiên trong việc điều trị hay hỗ trợ điều trị ung thư cũng là một hướng nghiên cứu của phương pháp điều trị truyền thống. Phương pháp này giúp nâng cao hiệu quả điều trị ung thư ở hai khía cạnh: tăng cường đáp ứng miễn dịch của cơ thể và ức chế sự phát triển của khối u, giúp tăng khả năng sống sót của bệnh nhân [1][2]. Sự kết hợp giữa Y học hiện đại và Y học cổ truyền trong điều trị ung thư đã phát huy được thế mạnh của các thuốc có nguồn gốc từ dược liệu tự nhiên, nâng cao sức đề kháng của cơ thể, hạn chế được tối đa tình trạng tái phát và di căn khối u và các tác dụng không mong muốn của hóa - xạ trị, nên các triệu chứng lâm sàng được cải thiện.
Do vậy, một trong những hướng nghiên cứu của Y học cổ 7 truyền là tìm các chất thảo dược nguồn gốc thiên nhiên có tác dụng tăng cường miễn dịch và ức chế sự phát triển của tế bào ung thư. Cây Lan Kim Tuyến là một trong những cây dược liệu quý tại Việt Nam và trên thế giới do tác dụng dược lý đa dạng và giá trị kinh tế cao. Theo Đông y, Lan Kim Tuyến tươi hoặc khô đun sôi trong nước và lấy nước uống dùng điều trị đau ngực và đau bụng, bệnh tiểu đường, viêm thận, sốt, tăng huyết áp, liệt dương, rối loạn gan, lá lách và đau phế mạc. Cây Lan Kim Tuyến tươi được áp dụng bên ngoài như là một loại thảo mộc điều trị rắn cắn.
Hiện nay, ở Việt Nam, một số công bố khoa học cho thấy thành phần một số chất trong cao chiết và tác dụng nhất định của cây Lan Kim Tuyến trong việc phòng và hỗ trợ điều trị bệnh.