Đặt vấn đề Hiện nay, tuy rằng y học hiện đại phát triển rất nhanh nhưng chúng ta cũng không thể phủ nhận y học cổ truyền đã đóng góp một phần rất lớn cho sự phát triển. Nguyên liệu chính của y học cổ truyền không thể thiếu những loại cây, cỏ, thảo dược,…là những thực vật dễ tìm và rất hiệu quả trong việc điều trị. Vậy tại sao những loại thực vật ấy lại có tác dụng loại bỏ bệnh tật ra khỏi cơ thể chúng ta? Đang có rất nhiều nghiên cứu về các hoạt chất trong thảo dược đã chứng minh được hiệu quả đối với một số vi khuẩn như: Gingerols- một hợp chất phytochemical phenol trong gừng tươi- có khả năng chống lại các loại vi khuẩn đường miệng gây viêm nướu và nha chu; Cinnamaldehyde và Eugenol trong quế có đặc tính kháng khuẩn chống lại vi khuẩn gây viêm phổi, nhiễm trùng đường tiết niệu, sốt và nhiễm trùng da; acid carnosic và acid rosmarinic trong hương thảo có đặc tính kháng khuẩn, đặc biệt là Esherichial coli gây tiêu chảy ở người,. Sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ thảo dược như các chất chống vi khuẩn là giải pháp thay thế tốt nhất cho việc sử dụng thuốc kháng sinh tổng hợp vì chúng là các sản phẩm tự nhiên, dễ phân hủy sinh học, nguy cơ tổn hại môi trường thấp, không có tác dụng phụ và dễ tìm thấy ở địa hình Việt Nam, giá cả phải chăng.
Hơn thế, ngày nay người ta đã và đang làm nhiều cuộc khảo sát chứng minh được việc bổ sung thảo dược vào thức ăn hằng ngày có tác dụng kích thích miễn dịch, tăng khả năng chống chịu với các bệnh đặc biệt là cách bệnh phải sử dụng đến kháng sinh, kích thích tăng trưởng và khả năng tạo thịt, trứng, sữa… cho nhiều đối tượng vật nuôi. Điều này là nhờ tác dụng tích cực của các polyphenol và hoạt tính chống oxy hóa có trong tế bào thực vật. 1 Oxy hóa là một quá trình cần thiết và luôn luôn diễn ra trong cơ thể của mỗi sinh vật sống. Khi có biến cố và tạo ra sự mất cân bằng giữa hoạt động của các gốc tự do và hoạt động chống oxy hóa sẽ gây stress oxy hóa.
Theo thời gian, sự tích tụ của các gốc tự do có thể gây ra các tình trạng bệnh lý như thiếu máu cục bộ, hen suyễn, viêm, thoái hóa thần kinh, viêm khớp, bệnh Parkinson. Bên cạnh các chất chống oxy hóa có nguồn gốc từ tự nhiên, có rất nhiều chất chống oxy hóa tổng hợp được nghiên cứu và sử dụng như phụ gia bảo quản trong các ngành công nghiệp thực phẩm, dược, mĩ phẩm. Tuy nhiên, sử dụng các chất từ tổng hợp cũng gây nhiều tác dụng phụ không mong muốn. Do vậy, các hợp chất chiết suất từ tự nhiên có khả năng kháng oxy hóa không gây tác dụng phụ cho sức khỏe là lựa chọn hàng đầu.
Đặc biệt trong lĩnh vực làm đẹp, khi nhu cầu làm đẹp bản thân ngày càng lên xu hướng thì các sản phẩm hỗ trợ lại càng được quan tâm. Việc sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc từ thiên nhiên đang được chị em phái đẹp nói riêng và toàn thể xã hội nói chung chú trọng và ứng dụng rộng rãi. Nghệ là một loại thực vật rất phổ biến ở Việt Nam và được công nhận về các tác dụng có lợi như chống viêm, giảm đau, làm đẹp… Trong y học cổ truyền nghệ đã được sử dụng để điều trị các rối loạn viêm, giảm đau do viêm mãn tính, bệnh thấp khớp, đau lưng, thậm chí là viêm gân hàng trăm năm nay. Một tác dụng đáng kể của nghệ là tái tạo, curcumin và các thành phần có trong nghệ giúp cơ thể phục hồi nhanh hơn khi xuất hiện tổn thương sau chấn thương hoặc tai nạn.
Vì lý do đó, tôi thực hiện nghiên cứu nhằm chiết xuất và đánh giá khả năng kháng khuẩn, hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxi hóa của dược liệu củ nghệ vàng. Mục tiêu nghiên cứu - Khảo sát khả năng kháng khuẩn của dịch chiết nghệ trên một số loài vi khuẩn gây bệnh phổ biến như: Escheria coli, Staphylococcus aureus, Bacillus subtilis, Samolnella, Pseudomonas aeruginosa, Geobacillus stearothemophilus. 2 - Đánh giá hàm lượng polyphenol và khả năng chống oxy hóa của dịch chiết củ nghệ vàng. - Tìm ra dung môi thích hợp để thu dịch chiết nghệ có khả năng kháng khuẩn, hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxi hóa cao.
- Đánh giá sự ảnh hưởng của nhiệt độ đến khả năng kháng khuẩn, hàm lượng polyphenol và hoạt tính chống oxi hóa của dịch chiết nghệ. - Khảo sát khả năng kháng khuẩn, hoạt tính chống oxy hóa và hàm lượng polyphenol của củ nghệ sau khi được xử lý nhiệt (sao thô). Ý nghĩa của đề tài. Đề tài có ý nghĩa quan trọng đối với việc chọn ra được loại dược liệu có hoạt tính cao với loại dung môi tác dụng hiệu quả nhất để ứng dụng vào đời sống.
Đề tài sau khi hoàn thành có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho những đề tài nghiên cứu dược liệu sau này. 3 PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Giới thiệu về cây nghệ Tên thường gọi: cây nghệ vàng Tên gọi khác: Khương hoàng, uất kim, cohem, co khản mỉn ( tiếng thái), khinh lương ( tiếng Tày). Tên khoa học: Curuma longa L.
Họ: Gừng (Zingiberaceae) Hình 2.1: Thân, hoa và củ nghệ vàng Đặc điểm: Cây nghệ là cây thân thảo, sống lâu năm thuộc họ gừng, có củ dưới mặt đất. Chiều cao trung bình của nghệ ở điều kiện sống bình thường là khoảng 1,2 mét. Cây tạo nhánh, có màu vàng cam, thân hình trụ và thân rễ (củ nghệ) có mùi thơm đặc trưng. Lá cây mọc xen kẽ nhau thành hai hàng, lá gồm 4 bẹ lá, cuống lá và phiến lá; từ các bẹ lá thân giả được hình thành.
Cuống lá dài từ 50cm – 115cm; các phiến lá đơn trung bình dài 76cm – 115cm và có thể dài tới 230cm nhưng rất ít; lá nghệ rộng 38cm – 45cm có dạng hình thuôn hoặc elip và thu hẹp ở chóp. Bề mặt lá khá nhẵn, không có lông tơ. Hoa nghệ thường mọc ở nách lá, có màu xanh lục, tím hoặc vàng. Quả nghệ tồn tại ở dạng nang, trong quả có nhiều hạt được bảo vệ bởi lớp vỏ áo.
Củ nghệ được hình thành từ sự phát triển của rễ, hình trụ tròn và chia nhánh. Ngoài vỏ nghệ có màu nâu xám ngả vàng, nhiều vân ngang màu đậm. Củ nghệ tươi có mùi thơm đặc trưng, vị cay, ấm.2: Củ nghệ vàng Phân bố: Nghệ vàng được tìm ra ở một số khu rừng nhiệt đới như Nadu, Tamil, phía Đông Ấn Độ hoặc ở một số nước Đông Nam Á như Lào, Campuchia. Ở nước ta, nghệ được tìm thấy ở khắp các vùng núi cao và đồng bằng.
Vì là cây ưa ẩm, nhiệt độ thích hợp cho sự sinh trưởng của nghệ là 20°C đến 30°C nên ở Việt Nam người ta trồng nghệ để sử dụng rất phổ biến. Thu hoạch: Người ta thường thu hoạch củ nghệ vàng vào mùa thu, đây là thời điểm thảo dược có nhiều dưỡng chất nhất. Sau thu hái, phần rễ con được cắt bỏ, củ được giữ lại dùng ngay hoặc mang đi sấy khô, nghiền thành bột mịn để bảo quản lâu dài. 5 Thành phần hóa học: Củ nghệ chứa các thành phần hóa học tiêu biểu như: - Nhóm hợp chất Curcuminoid gồm: curcumin (diferuloylmethane), demethoxycurcumin, và bisdemethoxycurcumin.
- Các loại tinh dầu: turmerone, atlantone, và zingiberene với thành phần chủ yếu là sesquiterpen ceton arturmeron, α- turmeron, β- turmeron và curlone. - Một số thành phần khác: các loại đường, protein và nhựa cây.3: Cấu tạo hợp chất Curcumin và tinh dầu nghệ Củ nghệ chứa khoảng 5% tinh dầu và 5% curcumin là một dạng polyphenol. Curcumin là chất quan trọng và có giá trị nhất trong củ nghệ, nó có hoạt chất chính với kí hiệu C. 75300, hay còn gọi là Natural Yellow 3, tên hóa học là (1E,6E)-1,7-bis(4-hydroxy-3-methoxyphenyl)-1,6-heptadien-3,5-dion.
Củ nghệ là loại tạo màu rất tốt, các chất màu phenolic trong củ nghệ đa phần là chất dẫn diarylheptan. Curcumin là thành phần chính của curcuminoit – một chất trong củ nghệ thuộc họ Gừng (Zingiberaceae) được sử dụng như một gia vị phổ biến ở Ấn Độ. Có hai loại curcuminoit khác là desmethoxycurcumin và bis-desmethoxycurcumin. Các curcuminoit là các polyphenol và là chất tạo màu vàng cho củ nghệ.
6 Curcumin có thể tồn tại ít nhất ở 2 dạng tautome là keto và enol. Cấu trúc dạng enol ổn định hơn về mặt năng lượng ở pha rắn và dạng dung dịch [1]. Curcumin có thể sử dụng để định lượng bo trong cái gọi là phương pháp curcumin. Nó phản ứng với acid boric tạo ra hợp chất màu đỏ, gọi là rosocyanin.
Curcumin có màu sáng đậm và được dùng để tạo màu cho thực phẩm như một chất phụ gia, được biết tới với tên gọi E100. Curcumin kết hợp chặt chẽ vài nhóm chức. Các hệ thống vòng thơm, là các polyphenol được nối bởi 2 nhóm cacbonyl α,β-chưa bão hòa. Hai nhóm cacbonyl tạo thành diketon.
Diketon tạo thành các enol ổn định hay dễ dàng khử proton và tạo thành các enolat, trong khi cacbonyl α,β-chưa bão hòa là tác nhân nhận Michael tốt và có phản ứng cộng ái lực hạt nhân. Tác dụng: Trong y học cổ truyền, nghệ vàng có vị cay, đắng, nồng, tính ấm. Sử dụng củ nghệ có tác dụng phá huyết, hành khí, thông kinh, khánh viêm, liền sẹo…Nghệ được biết đến là thảo dược chữa nhiều bệnh như đau dạ dày, đau nhức xương khớp, hỗ trợ điều trị ung thư dạ dày, trị mụn làm đẹp da, tăng cường miễn dịch và đặc biệt hiệu quả trong việc chống viêm, kháng khuẩn. Cụ thể, nghệ chữa kinh nguyệt không đều, trướng bụng, viêm loét dạ dày, ung nhọt, ghẻ lở, phong thấp, tay chân đau nhức, vàng da, cầm máu, tăng cường chuyển hóa, trị loét dạ dày tá tràng, các bệnh về gan.
Trong y học hiện đại, nghệ có tác dụng khử trùng sát khuẩn, viêm khớp dạng thấp, ức chế một số loại vi khuẩn và nấm gây bệnh, trong đó có trực khuẩn lao, các trực khuẩn lỵ, phế cầu khuẩn, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn coli, nấm candida albicans. Cao chiết từ củ nghệ còn có thể ức chế lỵ amip. Xu hướng sử dụng thuốc và thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thảo dược thiên nhiên trên thế giới. Khi khoa học ngày càng phát triển, các phát hiện về tính mới ngày càng đột phá thì cùng với đó người ta đã và đang tìm được rất nhiều những đặc tính 7 vượt trội về tác dụng dược lý của các loại cây thuốc, thảo dược có nguồn dốc hoàn toàn từ thiên nhiên.
Đây cũng là lối đi đầy hứa hẹn cho việc chăm sóc sức khỏe, chăm sóc sắc đẹp khi thuốc kháng sinh đã bị lạm dụng quá mức.