ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm loét dạ dày tá tràng là bệnh lý thường gặp, trong đó viêm loét dạ dày tá tràng mạn có Helicobacter pylori là yếu tố nguy cơ quan trọng nhất với ung thư dạ dày [33]. Kể từ khi được Warren J. [49] phát hiện và công bố vào năm 1983 đến nay, Helicobacter pylori vẫn đang thu hút sự quan tâm nghiên cứu của cộng đồng y học trên toàn cầu. Năm 1994, Tổ chức Y tế thế giới ước chừng hơn 50% dân số toàn cầu bị nhiễm H.
Ở Việt Nam, tỷ lệ nhiễm H.P ở lứa tuổi từ 15-75 là 56%- 75,2% với xét nghiệm huyết thanh học và tỷ lệ nhiễm trong các thể bệnh qua nội soi ở người lớn vào khoảng 53-89,5% tại một số bệnh viện thành phố lớn. Tỷ lệ nhiễm H.P trong viêm dạ dày mạn ở miền Bắc Việt Nam từ 53-72,8%; ở thành phố Hồ Chí Minh 64,7% [28],[11]. Viêm loét dạ dày, đặc biệt là viêm loét dạ dày có vi khuẩn HP dương tính nếu không được điều trị dễ gây nhiều biến chứng ảnh hưởng đến tính mạng như xuất huyết dạ dày, ung thư hóa,. Tổ chức Y tế thế giới xác định việc điều trị tiệt trừ Helicobacter pylori là một trong các biện pháp chủ yếu ngăn ngừa ung thư dạ dày [39] [43].
Xu hướng chung trong điều trị viêm loét dạ dày là loại trừ nguyên nhân gây bệnh, diệt vi khuẩn HP, bình thường hóa chức năng dạ dày, nâng cao khả năng miễn dịch sinh học của cơ thể và tăng cường quá trình tái tại niêm mạc dạ dày. Các thuốc Y học hiện đại hiện nay rất nhiều và cho hiệu quả cao nhưng tỷ lệ kháng thuốc HP là một vấn đề quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu [5], [8]. Theo Y học cổ truyền, viêm loét dạ dày tá tràng mạn tính là tình trạng rối loạn công năng của các tạng phủ Can, Tỳ, Vị và thường mô tả bệnh này trong các phạm trù “Vị quản thống”. Nguyên nhân gây chứng Vị quản thống theo YHCT có rất nhiều tập trung vào 3 nhóm nguyên nhân chính bao gồm nội nhân, ngoại nhân và bất nội ngoại nhân.
Trong y học cổ truyền không có tên Helicobacter pylori nhưng đối chiếu với chứng bệnh mà nó gây ra thì đây là một loại tà khí gây bệnh - nhiệt tà [51], [52], [53]. Từ khi phát hiện sự có mặt của vi 2 khuẩn Helicobacter pylori trong niêm mạc dạ dày đã có sự thay đổi hẳn về quan niệm nguyên nhân gây bệnh, cũng như phương thức điều trị theo y học hiện đại và y học cổ truyền. Y học cổ truyền có nhiều phương pháp để điều trị bệnh này [41], [51]. Các thuốc thảo dược có khả năng diệt vi khuẩn H.P có rất nhiều và đã được chứng minh trên thực nghiệm, lâm sàng có hiệu quả điều trị cao.
Bài thuốc DDHV gồm mười vị dược liệu, là bài thuốc nghiệm phương, dựa trên lý luận của y học cổ truyền trong điều trị chứng vị quản thống cũng như việc phối ngũ các vị thuốc theo pháp, phương và hài hòa các vị dược liệu để nâng cao chất lượng điều trị bệnh lý này. Bài thuốc đã được bước đầu đánh giá điều trị cho bệnh nhân viêm loét dạ dày mạn tính trên lâm sàng cho kết quả khả quan. Tuy nhiên chưa có một nghiên cứu một cách toàn diện, hệ thống để khẳng định hiệu quả của bài thuốc DDHV trong điều trị viêm loét dạ dày tá tràng do vi khuẩn Helicobacter pylori. Nghiên cứu đánh giá tác dụng của bài thuốc trên thực nghiệm là một bước quan trọng trong nghiên cứu phát triển hiện đại hóa Y học cổ truyền, tạo sản phẩm phục vụ rộng rãi cho cộng đồng.
Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu tác dụng dược lý của bài thuốc DDHV điều trị viêm loét dạ dày do vi khuẩn Helicobacter Pylori trên thực nghiệm”. Mục tiêu: - Nghiên cứu một số tác dụng giảm đau, chống viêm, bảo vệ niêm mạc dạ dày của cao đặc DDHV trên động vật thực nghiệm. - Nghiên cứu tác dụng ức chế vi khuẩn Helicobacter pylori của cao đặc DDHV trên thực nghiệm. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Y học hiện đại về viêm loét dạ dày tá tràng 1. Định nghĩa Viêm dạ dày tá tràng là thuật ngữ dùng để chỉ tất cả những tổn thương viêm ở niêm mạc dạ dày, tá tràng, thể hiện sự đáp ứng của niêm mạc dạ dày, tá tràng với các yếu tố tấn công [29], [44]. Loét dạ dày-tá tràng (peptic ulcer) là hệ quả cuối cùng của quá trình viêm do mất cân bằng giữa các yếu tố tấn công và các yếu tố bảo vệ niêm mạc dạ dày và tá tràng. Bệnh sinh viêm, loét dạ dày tá tràng phức tạp, do nhiều yếu tố tham gia cùng dẫn đến tăng tiết dịch vị vượt quá khả năng chống đỡ của niêm mạc dạ dày-tá tràng.
Các tổn thương dạ dày-tá tràng có thể thấy được qua nội soi. Viêm dạ dày tá tràng mạn thường thể hiện dưới dạng tăng sinh tổ chức hạt gây viêm dạng hạt (granular gastritis). Khi tổn thương ăn sâu qua lớp cơ niêm dạ dày hoặc tá tràng sẽ dẫn đến loét (peptic ulcers). Nguyên nhân Viêm loét dạ dày tá tràng do nhiều nguyên nhân khác nhau và được chia thành 3 typ nguyên nhân: Typ A (Autoimmune): Do tự miễn Typ B (Bacteria): Do vi khuẩn.
Nguyên nhân gây viêm dạ dày do vi khuẩn Helicobacter pylori chiếm đến 70-80% [40]. Typ C (Chemical) : Do các thuốc và hóa chất. * Vai trò của Helicobacter pylori: Năm 1983, Marshall và Warren mới nuôi cấy thành công và chứng minh vai trò gây bệnh của vi khuẩn sống trong niêm mạc dạ dày gọi là Helicobacter pylori, chúng có khả năng di chuyển xuống dưới lớp nhầy của niêm mạc dạ dày [48]. pylori là vi khuẩn gram âm có hình cong vặn, là nguyên nhân chính gây viêm dạ dày mạn tính hoạt động, loét dạ dày và nguy cơ gây ung thư dạ dày.
Nguồn truyền nhiễm của H. pylori chủ yếu là người. Kết quả của các nghiên cứu cho thấy tỉ lệ 4 nhiễm H. pylori cao ở những gia đình có người mang vi khuẩn hoặc bị bệnh dạ dày tá tràng do nhiễm H.
Tỉ lệ huyết thanh dương tính với H.pylori cao ở những người ngủ chung giường, sinh hoạt cùng phòng, sống trong điều kiện đông đúc như trại mồ côi, gia đình đông người chật chội [13], [45]. Tổn thương niêm mạc dạ dày tá tràng do H.P gây viêm loét dạ dày tá tràng qua 3 cơ chế khác nhau: sự thay đổi sinh lí dạ dày, nhiễm độc trực tiếp từ các sản phẩm của vi khuẩn, các phản ứng viêm với sự giải phóng nhiều sản phẩm phản ứng độc tố khác nhau [18], [10], [30]. Nếu nhiễm trùng không được điều trị thì sau 10- 20 năm sẽ teo niêm mạc dạ dày, làm tăng pH dạ dày lên 6-8. Các tuyến bị mất, viêm teo niêm mạc dạ dày và dị sản ruột, điều này có thể khởi đầu cho giai đoạn ác tính [20].
Điều trị viêm loét dạ dày tá tràng có Helicobacter pylori theo y học hiện đại Phương thức điều trị hiện nay dựa trên quan niệm cơ chế bệnh sinh của bệnh là sự mất cân bằng giữa các yếu tố bảo vệ niêm mạc và các yếu tố tấn công (acid và pepsin) với nguyên nhân sinh bệnh là nhiễm H. Do vậy điều trị viêm loét dạ dày có nhiễm H.P là sự kết hợp các tiêu chí sau [17]: - Làm giảm acid HCL và pepsin (giảm yếu tố tấn công). + Thuốc giảm tiết acid và pepsin: thuốc ức chế thụ thể H2 (Cimetidin, Tagamet,…), thuốc ức chế bơm proton (Omeprazole, Lansoprazole,…). + Thuốc trung hòa acid (Antacid): là nhóm thuốc có tác dụng trung hoà acid trong dịch vị, nâng độ pH của dạ dày lên (4-4,5) tạo điều kiện cho tái tạo niêm mạc bị tổn thương và giảm hoạt tính của Pepsin.
- Dùng các thuốc có tác dụng bảo vệ niêm mạc (tăng cường yếu tố bảo vệ). + Thuốc băng se niêm mạc dạ dày: Phosphalugel, Gastropulgite, Trymo, Noigel, Silicate Al (Kaolin, Smecta),… + Misoprostol là chất tổng hợp tương tự Prostaglandin E1, có tác dụng ức chế tiết acid dạ dày, tăng sinh chất nhầy bảo vệ niêm mạc dạ dày. 5 + Epidermal growth factor, có tác dụng kích kích phân chia đối với các loại tổ chức tế bào trong cơ thể, chống lại sự tiêu hóa của protease, đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ niêm mạc dạ dày và làm lành vết loét dạ dày. - Dùng thuốc tiệt trừ H.P khó bị tiêu diệt vì nó nằm ở lớp màng nhày bao phủ niêm mạc dạ dày là nơi thuốc không khuyếch tán tới được hoặc khuyếch tán tới ít với nồng độ thấp.P là vi khuẩn phát triển chậm, đòi hỏi phải phối hợp thuốc và dùng kéo dài.
Muốn đạt được hiệu quả cao cần sử dụng thuốc có khả năng ức chế toan mạnh thông qua cơ chế thể dịch và thời gian bán hủy chậm để chuyển H.P từ dạng xoắn khuẩn hoạt động sang dạng cầu khuẩn ngừng hoạt động do vậy nhóm thuốc ức chế bơm proton PPI (Proton Pump Inhibitor) thường được lựa chọn. Đối với kháng sinh phải chịu được môi trường acid, có tác dụng cộng hưởng tăng hiệu lực, lưu kháng sinh ở dạ dày càng lâu càng tốt (chỉ dùng kháng sinh đường uống) và khả năng kháng thuốc với vi trùng ít nhất [15], [46]. Các kháng sinh thường được sử dụng trong điều trị tiệt trừ H.P từ trước tới nay gồm: Amoxicillin, Clarithromycin, Metronidazole hoặc Tinidazole, Tetracycline. Những năm gần đây, với sự ra đời của nhiều loại kháng sinh mới được dùng tiệt trừ H.P như: Levofloxacin, Furazolidone, Rifabutin [11], [1].
Ngoài ra các thuốc ức chế bơm proton, các muối Bismuth cũng có tác dụng diệt H.P theo cơ chế tự ức chế vi khuẩn của thuốc và đạt hiệu quả diệt trừ H.P cao khi kết hợp với thuốc kháng sinh trong các phác đồ điều trị tiệt trừ H. - Ngoài ra, để giảm đau cần dùng thuốc giảm đau chống co thắt cơ trơn: Atropin, Nospa, Sparmaverin,… 1. Quan điểm Y học cổ truyền về viêm loét dạ dày Theo y học cổ truyền, các triệu chứng mô tả trong bệnh viêm loét dạ dày thuộc phạm trù “vị thống” [9], được mô tả trong sách nội kinh “Linh Khu trưởng luận” ghi: “Vị trướng thì phúc mãn, vị quản thống, ảnh hưởng đến ăn uống, đại tiện khó” [12], [32]. Bệnh phần lớn do ăn uống thất điều, tinh thần căng thẳng, sinh hoạt không điều độ, ngoại tà xâm nhập,… dẫn đến khí cơ bị trở ngại, vị mất hòa giáng mà thành [12], [32].
Nguyên nhân và cơ chế bệnh sinh - Lục dâm xâm nhập: bệnh thường khởi phát vào mùa thu đông và đông xuân, thời tiết hay thay đổi là yếu tố thuận lợi cho tà khí của lục dâm như hàn tà, thấp tà dễ gây bệnh [12], [32].