Đặt vấn đề Trong quá trình phát triển của mỗi quốc gia, phát triển đô thị luôn là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội. Đô thị hoá được xem là vấn đề hết sức quan trọng hiện nay đối với Việt Nam (Nguyễn Thế Chinh, 2004)[9]. Ngày 20/10/2008, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết đinh số 1519/QĐ-TTg lấy ngày 8/11 hằng năm là Ngày Đô thị Việt Nam, nhằm động viên và thu hút sự quan tâm của các tầng lớp nhân dân, chính quyền các đô thị các nhà quy hoạch, kiến trúc, các nhà đầu tư phát triển đô thị, các chuyên gia và các tổ chức xã hội - nghề nghiệp tích cực tham gia xây dựng và phát triển đô thị (Võ Kim Cương, 2010)[10]. Trong những năm qua, Việt Nam đã đạt được những kết quả tích cực trong việc phát triển đô thị gắn liền với các mục tiêu tăng trưởng kinh tế và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.
Hệ thống các đô thị đã có sự phát triển nhanh cả về số lượng, chất lượng và quy mô. Diện mạo đô thị có nhiều khởi sắc theo hướng văn minh, hiện đại, tạo dựng được những không gian đô thị mới, từng bước đáp ứng nhu cầu về môi trường sống và làm việc có chất lượng. Đô thị đã khẳng định vai trò là động lực cho phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở mỗi địa phương, mỗi vùng và cả nước v. Tuy nhiên, phát triển đô thị tại Việt Nam còn nhiều hạn chế và chưa đáp ứng yêu cầu phát triển.
Bên cạnh đó, hệ thống đô thị Việt Nam cũng đang phải đối diện với những thách thức mới nảy sinh do tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng. Đây là những thách thức lớn, làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đô thị, điều kiện, môi trường sống của dân cư và đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững, đặt ra nhiều vấn đề mới trong công tác quy hoạch, xây dựng và phát triển đô thị hiện nay. n 2 Thành phố Thái Nguyên là thành phố tỉnh lị của tỉnh Thái Nguyên, là một trong những thành phố lớn ở miền Bắc, trung tâm vùng trung du và miền núi phía Bắc, có tốc độ phát triển đô thị nhanh và mạnh (UBND TP. Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, bộ mặt đô thị của thành phố Thái Nguyên đã có những chuyển biến vượt bậc.
Việc phát triển đô thị đã diễn ra với tốc độ cao và đã thúc đẩy kinh tế tăng trưởng, thu hút đầu tư và việc làm. Tuy nhiên, quá trình phát triển này cũng làm mất diện tích đất nông nghiệp đáng kể, đã ảnh hưởng đến quá trình quản lý, sử dụng đất nông nghiệp cũng như đời sống của người dân (UBND TP. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm khoa Tài nguyên & Môi trường, trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên, dưới sự hướng dẫn trực tiếp của thầy giáo: TS. Hoàng Văn Hùng, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến môi trường đất các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013”.
Mục đích của đề tài Đánh giá thực trạng và ảnh hưởng của sự phát triển đô thị đến chất lượng môi trường đất giai đoạn 2008-2013. Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường đất trước sự phát triển đô thị các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Yêu cầu - Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội ảnh hưởng tới sự phát triển đô thị của các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. n 3 - Đánh giá thực trạng của sự phát triển đô thị đến môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2008-2013 - Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng của phát triển đô thị đến môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
- Đánh giá ảnh hưởng của phát triển đô thị đến môi trường đất các xã, phường phía Tây Bắc và Đông Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu những tác động tiêu cực tới môi trường đất trước sự phát triển đô thị các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên 1. Ý nghĩa học tập và thực tiễn - Ý nghĩa học tập: Sử dụng kiến thức đã học áp dụng vào thực tế nâng cao tính thực tiễn, chiều sâu của kiến thức ngành học cho bản thân. - Ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất biện pháp để khắc phục và phòng tránh tác động tiêu cực của phát triển đô thị tới đất nông nghiệp, góp phần nâng cao đời sống người dân cho các xã, phường phía Đông Bắc và Tây Bắc thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên và các địa phương có điều kiện tương tự.
n 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Khái quát về đô thị và phát triển đô thị 2. Khái quát về đô thị 2. Khái niệm đô thị và quy định về đô thị Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp.
Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu lao động phi nông nghiệp, sống và làm việc theo kiểu thành thị. Đô thị là điểm tập trung dân cư với mật độ, chủ yếu là lao động nông nghiệp, cơ sở hạ tầng thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay trung tâm chuyên ngành có vai trò thức đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của cả nước, của một vùng trong tỉnh hoặc trong huyện. Đô thị là điểm dân cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nông nghiệp, có hạ tầng cơ sở thích hợp, là trung tâm chuyên ngành hay trung tâm tổng hợp; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, của một miền, của một tỉnh, của một huyện hoặc của một vùng trong tỉnh, trong huyện. (Vũ Thị Bình, 2008)[22] *Quy định về đô thị Ở nước ta theo quy định của Chính phủ, các điểm dân cư được gọi là điểm dân cư đô thị khi thỏa mãn 5 yêu cầu sau đây: 1.
Là trung tâm vùng lãnh thổ hay trung tâm chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội của một vùng lãnh thổ nhất định. Quy mô dân số nhỏ nhất là 4000 người (vùng núi có thể thấp hơn). Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp lớn hơn hoặc bằng 65% trong tổng số lao động, là nơi có sản xuất phi nông nghiệp và dịch vụ thương mại hàng hóa phát triển. Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật và các công trình công cộng phục vụ dân cư đô thị.
Mật độ dân cư được xác định tùy theo từng loại đô thị phù hợp với đặc điểm của từng vùng. Điểm dân cư đô thị Điểm dân cư đô thị là điểm dân cư tập trung phần lớn những người dân phi nông nghiệp, họ sống và làm việc theo kiểu thành thị. Mỗi nước có một quy định riêng về điểm dân cư đô thị.Việc xác định quy mô tối thiểu của đô thị phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội của mỗi nước và tỷ lệ phần trăm dân phi nông nghiệp của đô thị. Một số đặc điểm của điểm dân cư đô thị a.
Tỷ lệ lao động phi nông nghiệp ở điểm dân cư đô thị chỉ tính trong phạm vi nội thị Lao động phi nông nghiệp bao gồm những lao động làm việc trong các lĩnh vực: - Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp - Lao động xây dựng cơ bản - Lao động phục vụ: giao thông vận tải, bưu điện, tín dụng, ngân hàng, thương mại, dịch vụ công, du lịch - Lao động trong các cơ quan hành chính, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, nghiên cứu khoa học … - Những lao động khác ngoài nông nghiệp. Cơ sở hạ tầng đô thị Cơ sở hạ tầng đô thị là yếu tố phản ánh mức độ phát triển và tiện nghi sinh hoạt của người dân theo lối sống đô thị. Cơ sở hạ tầng đô thị gồm: - Hạ tầng kỹ thuật: Giao thông, điện nước, cống rãnh thoát nước, năng lượng và thông tin, vệ sinh môi trường … n 6 - Hạ tầng xã hội: nhà ở tiện nghi, các công trình dịch vụ công cộng văn hóa, xã hội, giáo dục đào tạo, y tế, nghiên cứu khoa học, cây xanh, vui chơi giải trí…(Vũ Thị Bình, 2008)[22] 2. Phân loại đô thị Tại Điều 4 Nghị định 42/2009/NĐ-CP về việc phân loại đô thị quy định: Đô thị được phân thành 6 loại như sau: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định công nhận.
Đô thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc. Đô thị loại I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện ngoại thành và có thể có các đô thị trực thuộc; đô thị loại I, loại II là thành phố thuộc tỉnh có các phường nội thành và các xã ngoại thành. Đô thị loại III là thành phố hoặc thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại thị. Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại thị.
Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nông thôn. Các đô thị ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo thì quy mô dân số và mật độ dân số có thể thấp hơn, nhưng tối thiểu phải đạt 50% tiêu chuẩn quy định, các tiêu chuẩn khác phải bảo đảm tối thiểu 70% mức tiêu chuẩn quy định so với các loại đô thị tương đương. Chức năng của đô thị Tuỳ theo mỗi giai đoạn phát triển mà đô thị có thể có các chức năng khác nhau, nhìn chung có mấy chức năng chủ yếu sau. n 7 * Chức năng kinh tế: đây là chức năng chủ yếu của đô thị.
Sự phát triển kinh tế thị trường đã đưa đến xu hướng tập trung sản xuất có lợi hơn là phân tán. Chính yêu cầu kinh tế ấy đã tập trung các loại hình xí nghiệp thành khu công nghiệp và cơ sở hạ tầng tương ứng, tạo ra thị trường ngày càng mở rộng và đa dạng hoá.