Mở đầu Chương 2: Tổng quan nghiên cứu về Khối lượng tìm kiếm từ khóa trên công cụ Google và tỷ suất lợi nhuận thị trường chứng khoán Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận CHƯƠNG 2. TONG QUAN NGHIÊN CỨU VE KHOI LƯỢNG TÌM KIEM TỪ KHOA TREN CÔNG CU GOOGLE VA TY SUẤT LỢI NHUẬN THI TRƯỜNG CHUNG KHOAN 2. Cơ sở lý luận về khối lượng tim kiếm từ khóa trên công cụ Google, Lý thuyết thị trường hiệu quả và tỷ suất lợi nhuận thị trường chứng khoán 2. Những vấn đề cơ bản về Sự chú ý của nhà đầu tư 2.
Sự chú ý là gì? Theo Anderson (2004) trong lĩnh vực tâm lý học, sự chú ý nói chung được định nghĩa như sau: “Sự chú ý (Attention) là khả năng nhận thức và tập trung vào các sự vật, hiện tượng, gọi là các kích thích cụ thể. Việc tập trung vào những nét đặc trưng riêng biệt trong môi trường kéo theo loại trừ hoặc bỏ qua những đặc điểm nhận dạng khác của môi trường.” Cherry (1953) lần đầu tiên giới thiệu đến hiện tượng chú ý, ví dụ như Hiệu ứng tiệc cocktail. Theo lời tác giả, tại 1 bữa tiệc, con người chỉ có khả năng tập trung vào duy nhất một cuộc nói chuyện trong một căn phòng ồn ào, và sẽ không quan tâm đến những tiếng ồn xung quanh. Tuy nhiên, các tương tác khác vẫn được con người chú ý đến nhưng chỉ ở mức độ thấp nhất định, như họ vẫn dễ dàng chú ý khi các cuộc trò chuyện ngoài lề nhắc đến tên mình.
Qua thí nghiệm này, Cherry (1953) đã chỉ ra rằng con người hoàn toàn có khả năng phát hiện ra tên của mình từ ngay cả khi không để tâm quá nhiều mà thông tin nhận được vẫn rõ ràng. Sau này, rất nhiều nghiên cứu đã đào sâu giải thích cho hiệu ứng trên. Treisman (1969) chỉ ra các khía cạnh về khả năng chọn lọc kỹ càng bằng việc phát triển các mô hình chú ý. Tác giả khuyến nghị rằng não bộ có thể dễ dàng nhận diện các từ ngữ có tính phức tạp thấp như tên của mình hoặc của người họ quan tâm, quen biết.
Năm 1973, sự chú ý lại tiếp tục được miêu tả Kahneman (1973) nhưng dưới góc độ năng lực tiếp nhận thay vì khả năng chọn lọc như các nghiên cứu trước. Theo tác giả, sự chú ý là nguồn cơn của nhận thức sợ hãi. Ngập trong khối lượng thông tin có sẵn khổng lồ, con người chỉ có khả năng chú ý đến những thông tin thu hút được ánh nhìn của họ và lờ đi những dòng thông tin không liên quan do sự hạn chế trong năng lực nhận thức của não bộ con người. Vì vậy, sự chú ý của con người vẫn là một khía cạnh nghiên cứu quan trọng trong nhiều lĩnh vực như giáo dục, tâm lý học và ở đây là kinh tế tài chính.
Sự chú ý của nhà đầu tư đến chỉ số đại diện TTCK Tính đến thời điểm hiện tại, rất nhiều các đề tài trên thế giới đã tập trung nghiên cứu sự chú ý của nhà đầu tư trên thị trường tài chính, cụ thể là đến chỉ số toàn thị trường cổ phiếu của các Sàn Giao dịch chứng khoán trên toàn thế giới. Hay nói cách khác, lý thuyết nghiên cứu qua thời gian đã lý giải tại sao tâm lý nhà đầu tư cá nhân lại quan tâm đến chỉ số toàn thị trường hơn thay vì quan tâm cụ thể đến từng tên hoặc mã chứng khoán của công ty. Barber và Odean (2008) là một trong những nhà nghiên cứu trong giai đoạn đầu tiếp cận đến vấn đề này. Các tác giả chỉ ra rằng khi tra cứu thông tin cổ phiếu mà nhà đầu tư muốn mua, họ thường phải đối mặt với những khó khăn nhất định khi mà có hàng ngàn cổ phiếu trên thị trường làm giới hạn khả năng phân tích tổng hợp thông tin của bản thân.
Họ có thể sẽ để tâm nhiều hơn đến một số cổ phiếu và lờ đi các cổ phiếu khác. Do đó, hành động mua/bán của những nhà đầu tư này sé đi kèm với tài sản là các cổ phiếu thu hút được sự chú ý của họ sớm nhất, thậm chí ngay cả khi cổ phiếu đó không đạt hiệu quả hoạt động tốt nhất thị trường. Và nếu nhà đầu tư đánh giá quá cao khả năng làm giàu từ giao dịch cổ phiếu họ chọn ban đầu, họ sẽ gần như duy trì niềm tin đó vào những tập hợp những cổ phiếu tương tự của thị trường, theo Lin và cộng sự (2010). Statman và cộng sự (2006) đánh giá sự chú ý của nhà đầu tư qua thái độ học tập và tiếp thu kiến thức, cụ thể nhà đầu tư có ý định học hỏi kiến thức toàn thị trường và thông tin vĩ mô hơn là chỉ chú ý đến thông tin của công ty hoặc cổ phiếu riêng biệt.
Kết quả của nghiên cứu cho thấy giới hạn chú ý - limited investor attention tạo ra một cấu trúc nội sinh của thông tin. Nhà đầu tư thậm chí đặt hết tất cả sự chú ý vào toàn thị trường và các thông tin vĩ mô và bỏ qua các thông tin của cổ phiếu cụ thể. Áp dụng lý thuyết giới hạn chú ý (Limited investor attention) và hiệu ứng mỏ neo (Anchoring effect), Li và Yu (2012) nhấn mạnh vào vai trò của neo cao nhất trong 52 tuần và neo cao nhất lịch sử của chỉ số Dow trong dự đoán lợi nhuận trong tương lai thay vì dùng cổ phiếu riêng biệt. Tiếp thu nhận định của Statman và cộng sự (2006) đề cập ở trên, khi nhà đầu tư có giới hạn về khả năng chú ý, họ thường chỉ quan tâm đến các yếu tố toàn thị trường và dữ liệu lớn vĩ mô.
Bên cạnh đó, cũng theo các tác giả này, chỉ số Dow Jones cung cấp thông tin tổng thể và bao quát nhất về thị trường cổ phiếu, và vì vậy, nhà đầu tư sẽ có xu hướng sử dụng chỉ số Dow Jones để làm cơ sở và là mỏ neo cho quyết định đầu tư chứng khoán. Một trong những đặc điểm tiêu biểu của sự chú ý là phân bổ chú ý. Dựa vào cơ sở phân chia chú ý, một mô hình giá tài sản tài chính được phát triển bởi Mondria (2010) chi 10 ra rằng các nhà đầu tư thường thu thập thông tin từ một tập hợp các tài sản. Nhà đầu tư có thể lựa chọn xử lý 2 loại thông tin thuộc tài sản riêng biệt hoặc thuộc một tập hợp các tài sản tuyến tính.
Nhưng do hạn chế trong thu thập thông tin tài sản riêng biệt nhưng lại sẵn có các thông tin về tập hợp tài sản (như tập hợp cổ phiếu của rổ S&P500), nhà đầu tư thường có xu hướng xử lý tín hiệu từ tập hợp các tài sản tuyến tính với nhau và sử dụng nó như một tín hiệu của riêng cá nhân. Kết quả Mondria (2010) sau khi nghiên cứu tâm lý của nhà đầu tư cho thấy các nhà phân tích thị trường theo dõi các tài sản chứa nhiều thông tin thị trường vĩ mô vì họ sử dụng thông tin về một số tài sản không chỉ để phục vụ duy nhất việc giao dịch tài sản đó, mà còn kết hợp định giá các tài sản liên quan trong tập hợp tài sản dang phân tích, do các tài sản trong rổ đó được coi là tuyến tính, tức có chiều hướng biến động tương đồng nhau. Tổng hợp lại các lý thuyết và nhận định trước đây về sự chú ý của nhà đầu tư đến chỉ số đại diện TTCK, có 3 lý do cơ bản giải thích nguyên nhân nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ thường có thiên hướng quan tâm đến chỉ số toàn thị trường, hay các thông tin vĩ mô hơn. Thứ nhất, do hạn chế trong khả năng lựa chọn giữa hàng ngàn cổ phiếu riêng biệt, nhà đầu tư cần thu hẹp mẫu lựa chọn lại bằng cách xem xét tập hợp chứng khoán từ chỉ số thị trường để biết đâu là các cổ phiếu lớn mạnh và sẽ có khả năng tăng giá để đem lại lợi nhuận khi đầu tư thông.
Nếu tìm hiểu kỹ càng từng cổ phiếu trong số rất nhiều cổ phiếu niêm yết trên sàn, nhà đầu tư sẽ có trong tay quá nhiều thông tin, nhưng lại không thể phân tích, so sánh và khái quát hết toàn bộ chúng khiến cho nhận định đưa ra có thể bị thiếu sót hoặc phán đoán giá sai lệch. Trong khi đó, nếu sử dụng chỉ số thị trường làm cơ sở quan sát, nhà đầu tư sẽ có cái nhìn tổng quan hơn về TTCK thông qua biến động giá chỉ số hằng ngày và tổng khối lượng giao dịch thị trường. Đồng thời, nếu tập trung vào các chỉ số thị trường là các rổ chứng khoán Blue Chip của từng sàn giao dịch, như chỉ số VN30, hoặc HNX30 tại Việt Nam, nhà đầu tư sẽ có thể có ngay một tập hợp mẫu gồm 30 mã cổ phiếu xuất hiện trong rổ chỉ số như VN30 mà không cần mất thời gian lọc giữa hàng nghìn cổ phiếu có trên thị trường tại thời điểm xem xét. Thứ hai, do đặc điểm giao dịch qua trung gian môi giới chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân.
Nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp là bộ phận không dựa vào gợi ý của môi giới chứng khoán để ra quyết định đầu tư. Theo Luật Chứng khoán mới 54/2019/QH14 ngày 26/11/2019, hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021, nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp bao gồm cả các cá nhân và tổ chức có năng lực tài chính và trình độ chuyên môn về chứng khoán. Tổ chức ở đây bao gồm các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính, tổ chức kinh doanh bảo hiểm, tổ chức kinh 11 doanh chứng khoán. Cá nhân ở đây phải đạt đủ điều kiện gồm có chứng chỉ hành nghề chứng khoán, và nắm giữ danh mục đầu tư ít nhất 2 tỷ đồng hoặc chịu thuế ít nhất 1 tỷ đồng.
Cũng theo Luật Chứng khoán, chỉ nhà đầu tư chuyên nghiệp mới được tham gia các đợt chào bán chứng khoán riêng lẻ của công ty đại chúng, công ty chứng khoán và công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, tức là không cần gián tiếp thực hiện giao dịch qua bên thứ 3 trung gian môi giới chứng khoán. Đồng thời, thông qua các đợt chào bán trực tiếp và khả năng tiếp cận thông tin giá trị, cũng như trình độ chuyên môn về chứng khoán, nhà đầu tư chuyên nghiệp thực sự không cần thiết phải tra cứu thông tin của từng mã chứng khoán trên Google. Ngược lại, với nhà đầu tư cá nhân, một xác suất không nhỏ cho thấy các quyết định của nhóm đầu tư này thường chịu ảnh hưởng bởi các đề xuất lựa chọn cổ phiếu của trung gian môi giới chứng khoán.