Đặt vấn đề Nƣớc ta với bờ biển dài 3260 km, 12 đầm phá và các eo vịnh, 112 cửa sông, lạch, hàng ngàn đảo lớn nhỏ ven biển. Trong nội địa hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt và các hồ thủy lợi, thủy điện đã tạo cho nƣớc ta có tiềm năng lớn về diện tích mặt nƣớc. Với tiềm năng lớn đó đã tạo cho nƣớc ta cơ hội phát triển ngành nuôi trồng thủy sản. Hàu TBD là động vật thân mềm hai mảnh vỏ, thịt thơm ngon và có giá trị dinh dƣỡng cao, có chứa nhiều protein, glucid, canxi, magie, đặc biệt là kẽm.
Hàu TBD có tính ƣu việt cao nhƣ: tốc độ sinh trƣởng nhanh, vỏ mỏng, tỷ lệ thịt tƣơng đối cao, trung bình từ 20 - 50% khối lƣợng cơ thể. Đây là đối tƣợng nuôi mới ở nƣớc ta, nhƣng sức tiêu thụ của thị trƣờng rất lớn, với giá bán dao động từ 25.000đ/kg cả vỏ. Mặc dù có giá trị kinh tế cao, nhƣng nguồn lợi này từ tự nhiên không nhiều. Chúng phân bố chủ yếu ở các vùng Quảng Ninh, Hải Phòng, Khánh Hòa, Phú Yên.
Do nhu cầu tiêu thụ ngày càng tăng nên nguồn lợi Hàu TBD từ tự nhiên bị khai thác nghiêm trọng nên việc phát triển nuôi Hàu TBD là việc làm rất cần thiết. Đứng trƣớc tình hình thực tế nhƣ vậy, để đáp ứng nhu cầu nuôi ngày càng cao thì vấn đề con giống cần phải đƣợc chú trọng. Việc thu gom con giống Hàu TBD trong tự nhiên là điều rất khó thực hiện và dễ gây nhầm lẫn với các loài khác. Do vậy để thúc đẩy và nâng cao năng suất và chất lƣợng giống Hàu TBD hơn nữa, ta cần tìm ra những nền giá thể tốt và phù hợp nhất trong quá trình cho Hàu bám vì chúng có ảnh hƣởng trực tiếp tới tỷ lệ sống, khả năng bám và khả năng sinh trƣởng của Hàu TBD, kết hợp với thời gian cho phép của đợt thực tập nên chúng tôi quyết định chọn và nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của 3 nền giá thể khác nhau tới tỷ lệ sống, tỷ lệ 2 bám và khả năng sinh trưởng của Hàu TBD tại trại giống Thủy sản xã Hạ Long - huyện Vân Đồn - tỉnh Quảng Ninh”.
Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 1. Mục tiêu của đề tài - Góp phần hoàn thiện quy trình sinh sản nhân tạo Hàu TBD tại trung tâm. - Tìm ra đƣợc nền giá thể thích hợp nhất để sử dụng nuôi Hàu TBD. Yêu cầu của đề tài - Áp dụng đầy đủ quy trình kỹ thuật trong sản xuất Hàu TBD giống.
Ý nghĩa của đề tài - Ý nghĩa khoa học: góp phần làm rõ đặc tính sống bám của Hàu TBD. - Ý nghĩa thực tiễn: hoàn thiện quy trình sản xuất giống Hàu TBD và chuyển giao công nghệ cho bà con ngƣ dân. 3 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học 2.
Hệ thống phân loại Hàu TBD Thumberg phân loại vào năm 1793 và đƣợc sắp xếp nhƣ sau: Ngành Mollusca Lớp Bilvalvia Bộ Anisomyarya Họ Ostreidae Giống Crassotrea Loài Crassotrea gigas (Thumberg, 1973) 2. Đặc điểm phân bố - Là loài phân bố rộng, chúng có mặt khắp nới trên thế giới, từ vùng hàn đới, ôn đới đến nhiệt đới, - Hàu TBD là loài bản địa của Đông Bắc châu Á nhƣ Nhật Bản, nhƣng đƣợc di chuyển và lan rộng ra nhiều quốc gia nhƣ Trung Quốc, Pháp, phía Tây nƣớc Mỹ và hiện nay chúng đƣợc phát triển nuôi tại bờ Đông, Ca-Na-Đa, Brazil, Hàn Quốc, Úc. Cho nên có thể nói Hàu TBD là loài phân bố toàn cầu (Ngô Tuấn Anh, 2009) [8]. - Ở Việt Nam phân bố nhiều ở vùng biển Quảng Ninh (Vịnh Hạ Long - Bái Tử Long) và Hải Phòng (vịnh Cát Bà).
Ở các tỉnh Miền Trung và Miền Nam thì Hàu TBD chủ yếu phân bố ở vịnh Vân Phong (tỉnh Khánh Hòa). - Vị trí phân bố: thƣờng ở các vùng cửa sông, eo vinh, đầm phá, nơi nƣớc lƣu thông, ít sóng gió. - Điều kiện môi trƣờng: Hàu là loài phân bố rộng nhiệt, rộng muối. Thích ứng với độ mặn từ 5 - 30 ppt, nhiệt độ từ 7 - 350C, pH từ 7.
Đặc điểm hình thái cấu tạo Cấu tạo ngoài - Hàu TBD là loài có kích thƣớc lớn nhất trong các loài Hàu có trên thế giới, kích thƣớc trung bình từ 8 - 20cm, có sức sinh trƣởng nhanh có thể đạt 100mm trong 12 tháng đầu đời, tuổi thọ có thể đạt 13 năm. - Hàu TBD có dạng giống với Hàu cửa sông (C.rivularis), tuy nhiên Hàu TBD có tỉ lệ chiều cao và chiều dài lớn hơn từ 1/2 - 1/3 hàu cửa sông. - Cơ thể Hàu đƣợc bao bọc bởi 2 vỏ cứng chắc. Vỏ trái lớn hơn và thƣờng bám vào nền đá, có dạng hình chén.
Vỏ phải nhỏ và phẳng. Đỉnh vỏ ở phía trên và có bản sừng gắn giữa hai vỏ. Vỏ Hàu có 3 lớp: lớp sừng ngoài mỏng, dễ bóc và cấu trúc hoàn toàn bằng protein. Lớp giữa dày nhất là tầng đá vôi với cấu trúc gồm cacbonate calcium kết tinh gắn chắc trên thể protein.
Lớp trong cùng mỏng, bóng sang và rất cứng là tầng xà cừ (Nguyễn Chính, 1996) [6]. - Hình dạng của vỏ rất khác nhau phụ thuộc vào môi trƣờng sinh sống. Nếu Hàu sống riêng rẽ trên nền đáy mềm thì vỏ nhẵn và kéo dài. Nếu phân bố trên nền đáy cứng thì vỏ có hình ống, nhăn, vỏ trái tròn hơn và lõm sâu.
Khi Hàu phân bố tập trung vỏ có hình dạng méo mó. Thông qua hình dạng vỏ Hàu có thể xác định đƣợc trạng thái của chất đáy. Hàu sống ở vúng có độ mặn cao có vỏ cứng hơn vùng có độ mặn thấp. - Hình thái vỏ Hàu TBD Vỏ Hàu TBD tƣơng đối lớn và không đều nhau giữa 2 vỏ, chúng dài và có hình gần Oval, những sọc đối xứng của 2 vỏ thịt bắt đầu từ những mấu lồi.
Cơ khép vỏ hình bầu dục. Trên bề mặt phần trƣớc bụng và phần lƣng của vỏ thƣờng có những hốc lõm sâu. Màu vỏ ngoài hơi vàng trắng và có những sọc màu nâu, phía trong vỏ có màu trắng sữa 5 Cấu tạo bên trong - Xúc tu có dạng những nếp gấp hình nón với màu hơi ngả vàng và những chấm nâu. - Ruột màu đen, tim có màu ngà hơi vàng.
Hình thái bên trong của Hàu TBD 1. Xoang nƣớc ra 6. Tuyến sinh dục 12. Phương thức sống Phƣơng thức sống của Hàu thay đổi theo giai đoạn phát triển của cơ thể.
- Ấu trùng phù du sống trôi nổi: (giai đoạn này bắt đầu từ lúc trứng bắt đầu thụ tinh đến khi ấu trùng bắt đầu xuất hiện mầm chân bám). Ấu trùng có 6 khả năng bơi lội nhờ vào hoạt động của vành tiêm mao, thời kỳ này dài hay ngắn phụ thuộc rất lớn vào thức ăn và nhiệt độ nƣớc. - Trƣởng thành sống bám cố định: Ấu trùng bò lê nếu gặp đƣợc vật bám phù hợp nhƣ: Đá, vỏ động vật thân mềm, san hô chết… Hàu sẽ tự tiết ra tơ chân để bám và sau đó nó sẽ tiết ra các keo dính để cố định vỏ trái trên vật bám. Giai đoạn này thƣờng kéo dài 1 - 2 ngày (Cao Văn Viện và Nguyễn Tác An, 2006) [10].
Đặc điểm dinh dưỡng: Thức ăn của Hàu thay đổi khác nhau tùy thuộc vào phƣơng thức sống của từng giai đoạn: - Giai đoạn sống trôi nổi: Thức ăn của ấu trùng ở giai đoạn này thƣờng là các loại thực vật phù du kích thƣớc nhỏ (2 - 8 m) nhƣ nanochloropsis, Isochrysis, Chaetocesros, Pavlov, Chlorella, Cryptomonas, Monas, Platymonas… Trong sản xuất giống thức ăn nhân tạo là một vấn đề cần chú trọng và nghiên cứu sâu sắc hơn nữa. - Giai đoạn trƣởng thành: Theo kết quả nghiên cứu thức ăn của Hàu ngƣời ta thấy rằng: Thức ăn của Hàu gồm có các sinh vật phù du, mùn bã hữu cơ, và các chất hòa tan trong nƣớc nhƣ aminoaxit, muối khoáng (đặc biệt là muối canxi rất cần thiết cho sự hình thành vỏ). Thực vật phù du (phytoplankton) chủ yếu là tảo silic: Melosira, Coscinodiscus, Navicula, Chaetoceros, Skeletonema… Động vật phù du (zooplankton) bao gồm ấu trùng giun nhiều tơ, Copepoda nhỏ, Rotifer và các loại ấu trùng Copepoda, Polychaeta (Nguyễn Chính, 1980) [5]. Phƣơng thức bắt mồi: Hàu là loài sống cố định nên phƣơng thức bắt mồi bị động theo hình thức lọc nhiều lần (Chestinnt, 1946) không có khả năng chọn lọc thức ăn về chất lƣợng nhƣng có khả năng chọn lọc kĩ càng thức ăn theo kích thƣớc lớn nhỏ.
Hàu bắt mồi trong quá trình hô hấp dựa vào cấu tạo đặc biệt của mang. Khi hô hấp nƣớc có trong mang theo thức ăn qua bề mặt 7 mang, các hạt thức ăn đƣợc giữ lại ở mang nhờ các tiêm mao và dịch nhờn đƣợc tiết ra ở các tiêm mao. Các hạt thức ăn có kích thƣớc nhỏ sẽ đƣợc dịch nhờn của các tiêm mao quấn dần về phía miệng, còn hạt thức ăn quá lớn tiêm mao không giữ đƣợc sẽ bị dòng nƣớc cuốn đi khỏi bề mặt mang, sau đó tập trung ở mép màng áo và bị màng áo đẩy ra ngoài. Mặc dù Hàu bắt mồi thụ động nhƣng cách bắt mồi nhƣ vậy chúng có thể chon lọc đƣợc thức ăn theo kích thƣớc (FAO, 2003).
Đặc điểm sinh trưởng Sự sinh trƣởng của Hàu phụ thuộc vào yếu tố ngoại cảnh, trong đó yếu tố nhiệt độ, thức ăn và độ mặn ảnh hƣởng trực tiếp tới sự sinh trƣởng phát triển của ấu trùng theo: Byung Ha Park và ctv (1998). Ngoài ra sự sinh trƣởng của Hàu còn phụ thuộc vào các nền giá thể mà chúng bám. Ví dụ: - Ở vùng biển nhiệt đới có nhiệt độ ấm, tốc độ sinh trƣởng của Hàu rất nhanh và quá trình sinh trƣởng diễn ra quanh năm. Thí dụ loài Hàu Crassostrea paraibanensis có thể đạt chiều cao 15cm trong một năm.
Ở vùng ôn đới quá trình sinh trƣởng diễn ra trong mùa xuân - hè, mùa thu - đông gần nhƣ không sinh trƣởng. - Khi ở nhiệt độ 19 - 20 0C, giai đoạn phù du cùa Hàu kéo dài khoảng 3 tuần. Ở nhiệt độ 27 0C là 10 ngày. - Độ mặn trong giai đoạn này giao động từ: 14 - 37 ‰, nhƣng thích hợp nhất là 15 - 25 ‰ (Võ Thị Quế Chi, 2010) [4].
- Ngoài ra sự sinh trƣởng của Hàu còn phụ thuộc vào mật độ và điều kiện môi trƣờng nƣớc của từng vùng khác nhau và do đặc tính di truyền của từng loài. - Một đặc điểm nổi bật của Hàu vùng nhiệt đới là sinh trƣởng rất nhanh trong 6 - 12 tháng đầu tiên sau đó chậm dần. Đặc điểm sinh sản Giới tính: có 3 dạng là đực, cái, lƣỡng tính - Giới tính của chúng thay đổi theo vòng đời.