Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm liên quan đến khoáng sản 1. Khái niệm về khoáng sản Có nhiều khái niệm về khoáng sản đã được định nghĩa dưới nhiều góc độ khác nhau như dưới góc độ địa chất học, pháp luật, tài nguyên môi trường… Trong địa chất học, khoáng sản được định nghĩa là các đá hoặc tập hợp khoáng vật tự nhiên trong vỏ trái đất, tạo thành do các quá trình địa chất xác định, có thể sử dụng trực tiếp hoặc từ đó lấy ra những kim loại hợp chất khoáng vật dùng trong nền kinh tế quốc dân. Dưới góc độ pháp luật, khoáng sản được hiểu bao gồm các tài nguyên trong lòng đất, trên mặt đất dưới dạng những tích tụ tự nhiên khoáng vật, khoáng chất có ích ở thể rắn, thể lỏng, thể khí, hiện tại hoặc sau này có thể khai thác.
Khoáng chất, khoáng vật ở những bãi thải của mỏ mà sau này có thể được khai thác lại, cũng là khoáng sản. Luật khoáng sản năm 2010 được Quốc Hội thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010 có quy định như sau: “Khoáng sản là khoáng vật, khoáng chất có ích được tích tự nhiên ở thể rắn, thể lỏng, thể khí tồn tại trong lòng đất, trên mặt bao gồm cả khoáng vật, khoáng chất ở bãi thải của nó” [13]. Trữ lượng khoáng sản là một phần của tài nguyên khoáng sản mà các tiêu chuẩn tối thiểu về hoá lý liên quan đến hoạt động khai thác, chế biến bao gồm phẩm chất, chất lượng, kích thước, độ sâu chôn vùi đã được tính toán, điều tra xác định là có giá trị kinh tế để khai thác sản xuất có lãi và đảm bảo tính hợp pháp tại thời điểm đánh giá. Khai thác khoáng sản Theo Từ điển địa chất, khoáng sản là sự tích tụ tự nhiên của các loại khoáng vật ở trong hoặc trên bề mặt vỏ Trái Đất; có thể sử dụng trực tiếp hoặc từ đó lấy ra những nguyên tố hoá học, khoáng vật, hay hợp chất để sử dụng trong nền kinh tế quốc dân.
Theo luật khoáng sản 2010, khai thác khoáng sản là hoạt 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com động nhằm thu hồi khoáng sản, bao gồm xây dựng cơ bản, khai đào, làm già u và các hoạt động có liên quan [13]. Phân loại khoáng sản Có nhiều cách phân loại khoáng sản nhưng cách phân loại phổ biến nhất là dựa vào nguồn gốc, hình thái, mục đích, diện tích. - Dựa vào nguồn gốc hình thành chia ra khoáng sản có nguồn gốc nội sinh và khoáng sản có nguồn gốc ngoại sinh. - Về mặt hình thái, khoáng sản tồn tại chủ yếu các dạng sau: ở thể rắn, thể lỏng, thể khí.
- Dựa theo mục đích và công dụng, các loại khoáng sản được chia thành khoáng sản nhiên liệu, khoáng sản kim loại, khoáng sản phi kim loại. - Theo diện tích phổ biến của khoáng sản người ta chia ra tỉnh khoáng sản, vùng (đới, bể, bồn) khoáng sản, khu khoáng sản, bãi quặng, thân quặng hay vỉa quặng [3]. Đặc điểm công nghiệp khai thác khoáng sản Nghành công nghiệp khai thác khoáng sản có đối tượng là nguồn tài nguyên vô sinh – tài nguyên khoáng sản. Tài nguyên khoáng sản có sẵn trong tự nhiên, không trải qua sản xuất ra như đối tượng của nền nông nghiệp, cũng không được tạo ra trong phòng thí nghiệm thông qua những phản ứng.
Chính vì vậy để có tài nguyên khoáng sản phải trải qua quá trình khai thác [14]. Ngành khai thác khoáng sản được xếp vào giai đoạn thứ nhất của toàn bộ ngành công nghiệp nói chung. Ngành công nghiệp khai thác khoáng sản bao gồm những phân ngành khác nhau: khai thác khoáng sản kim loại, phi kim loại… với những công đoạn như: khai thác, tuyển quặng, sơ chế… Sự phân bố ngành công nghiệp khai thác khoáng sản mang tính chất bị động, phụ thuộc chặt chẽ vào sự phân bố của nguồn khoáng sản, không chỉ sự phân bố địa điểm khai thác mà việc lựa chọn phương pháp kỹ thuật, phương tiện khai thác, vốn đầu tư cũng phụ thuộc chặt chẽ vào chủng loại, trữ lượng, chất lượng, điều kiện khai thác của khoáng sản [14]. Ngành công nghiệp khai thác có mối quan hệ chặt chẽ với các ngành khác để tạo gia sản phẩm cuối cùng, nó có thể coi là một trong những mắt xích đầu tiên của một dây truyền, khoáng sản là đối tượng của ngành khai khoáng.
Sản phẩm của ngành khai 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com khoáng lại là nguyên liệu của ngành luyện kim, hoá chất…, từ đó tạo ra máy móc và sản phẩm tiêu dùng. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố ngành công nghiệp khai thác khoáng sản * Vị trí địa lí Vị trí địa lí bao gồm vị trí tự nhiên, vị trí kinh tế xã hội, giao thông, các nhân tố này có tác động to lớn đến việc xác định địa điểm các xí nghiệp cũng như phân bố các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp. Đối với ngành công nghiệp khai khoáng vị trí địa lý mang tính chất bị động cao do chịu sự chi phối của nguồn khoáng sản. Các điểm khai khoáng thường phân bố ở những khu vực chứa quặng, thường xa đường giao thông và khu dân cư.
* Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên được coi là tiền đề vật chất không thể thiếu cho việc phát triển và phân bố ngành công nghiệp khai thác khoáng sản. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên bao gồm các yếu tố sau: - Khoáng sản là tài nguyên thiên nhiên quan trọng hàng đầu đối với công nghiệp khai khoáng. Số lượng, chủng loại, trữ lượng, chất lượng khoáng sản và sự kết hợp của chúng trên lãnh thổ chi phối quy mô, cơ cấu và tổ chức ngành công nghiệp này. Tuy nhiên tài nguyên khoáng sản thuộc loại không thể phục hồi được nên việc nghiên cứu khai thác chúng phải vừa đảm bảo hiệu quả vừa mang tính bền vững, bảo vệ tài nguyên và môi trường.
- Khí hậu và nguồn nước: Nuớc được sử dụng vào quá trình khai thác, tuyển quặng, sàng lọc…Tuy nhiên lượng nước mưa, nước ngầm, nước thải tràn qua mỏ cũng gây không ít khó khăn cho quá trình khai thác. Khí hậu cũng tác động to lớn đến hoạt động khai thác, trong một số trường hợp chi phối cả kĩ thuật, công nghệ khai thác. - Ngoài ra các nhân tố tự nhiên khác như: địa chất, địa hình, đất đai cũng có những tác động nhất định đến sự phát triển và phân bố ngành khai khoáng [14]. * Các nhân tố kinh tế xã hội - Dân cư và lao động: Dân cư lao động tham gia vào quá trình khai thác và quản lý, điều hành ngành khai thác khoáng sản.
Dân cư cũng là lực lượng sử dụng sản phẩm của hoạt động khai thác. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Khoa học kỹ thuật và công nghệ: Khoa học kỹ thuật và công nghệ đã tạo ra những khả năng mới cho sự phát triển của ngành công nghiệp khai khoáng, việc áp dụng các phương pháp, phương tiện kỹ thuật hiện đại đảm bảo khai thác có hiệu quả, nhanh chóng, an toàn và không lãng phí tài nguyên. - Thị trường: Đây là yếu tố mang tính chất động lực thúc đẩy sự phát triển ngành công nghiệp nói chung và ngành khai khoáng nói riêng. - Cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật, công nghệ: Mức độ hiện đại và đồng bộ của cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật công nghệ có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến sự phát triển và phân bố ngành khai khoáng.
- Đường lối chính sách phát triển công nghiệp: Đây là yếu tố có tác dụng đẩy mạnh và tạo cơ sở cho việc khai thác, chế biến, sử dụng, quản lý và bảo vệ khoáng sản. Quốc Hội Việt Nam đã ban hành một số đạo luật về việc khai thác và bảo vệ khoáng sản như: Luật dầu khí (1993), luật khoáng sản (1996). Các khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường 1. Các khái niệm về môi trường Môi trường là một tổ hợp các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh bên ngoài của một hệ thống nào đó.
Chúng tác động lên hệ thống này và xác định xu hướng và tình trạng tồn tại của nó. Môi trường có thể coi là một tập hợp, trong đó hệ thống đang xem xét là một tập hợp con. Môi trường của một hệ thống đang xem xét cần phải có tính tương tác với hệ thống đó. Một định nghĩa rõ ràng hơn như: Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế [11].
Các khái niệm về ô nhiễm môi trường Ô nhiễm môi trường là hiện tượng môi trường tự nhiên bị bẩn, đồng thời các tính chất vật lý, hóa học, sinh học của môi trường bị thay đổi gây tác hại tới sức khỏe con người và các sinh vật khác. Ô nhiễm môi trường chủ yếu do hoạt động của con người gây ra. Ngoài ra, ô nhiễm còn do một số hoạt động của tự nhiên khác có tác động tới môi trường [11]. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Cơ sở thực tiễn 1. Hiện trạng khai thác khoáng sản ở Việt Nam Từ khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng, công tác điều tra địa chất và tìm kiếm thăm dò khoáng sản mới được triển khai trên quy mô toàn lãnh thổ Việt Nam. Trong công tác điều tra cơ bản, bằng việc lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1/50.000, đã phát hiện thêm nhiều vùng, điểm mỏ có triển vọng lớn. Kết quả của công tác điều tra, khảo sát, thăm dò địa chất cho thấy, Việt Nam có tiềm năng khoáng sản khá phong phú, đa dạng.
Nhiều khoáng sản có trữ lượng lớn như bôxit, quặng sắt, đất hiếm, apatít…, chủng loại khoáng sản đa dạng, đây chính là điều kiện thuận lợi chohoạt động khai thác và chế biến các loại khoáng sản: * Nhóm khoáng sản nhiên liệu - Dầu khí: Đã được phát hiện ở Việt Nam từ những năm 1970, nhưng chỉ sau năm 1984, ngành công nghiệp dầu khí mới thực sự có bước đi vững chắc, đóng góp nhiều vào việc tăng trưởng xuất khẩu của cả nước. Dầu khí được tập trung ở các bể trầm tích Sông Hồng, Cửu Long, Nam Côn Sơn, Malay, Thổ Chu, Phú Khánh, Tư Chính, Vũng Mây, Trường Sa.