Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN VỀ VIỆC KHUYẾN KHÍCH DOANH NGHIỆP ĐẦU TƯ VÀO KH&CN Về phương diện lịch sử, lý thuyết chính sách công được hình thành và phát triển cùng với nhiều lý thuyết xã hội khác trong thế kỷ 20 (McCool, Daniel, 1994). Tuy nhiên, đối tượng của chính sách công và phương pháp nghiên cứu chính sách sách công còn nhiều tranh luận. Để phân biệt sự khác biệt với các nhóm chính sách khác, phương pháp thông thường đó là so sánh với chính sách tư, trong cách phân loại tổ chức của OECD thì khu vực chính phủ (công) là tất cả các cơ quan và văn phòng có chức năng cung cấp những dịch vụ thông thường mà các nơi khác không thể thực hiện được nếu xét ở khía cạnh kinh tế, cũng như công tác quản lý Nhà nước về chính sách KT-XH của cộng đồng và các tổ chức phi lợi nhuận được sự quản lý nhà nước và cấp kinh phí chủ yếu bởi chính phủ, nhưng không do khu vực giáo dục quản lý. Khu vực tư, lực lượng nồng cốt là các DN tư nhân, ngoài ra khu vực này còn có DN công, các tổ chức phi lợi nhuận, có hoạt động chủ yếu là sản xuất hàng hóa hoặc dịch vụ cho thị trường để bán cho công chúng với một giá có tầm quan trọng về kinh tế.
Kinh nghiệm của các nước Mỹ, Đức, Trung Quốc, Đài Loan và Thái Lan, cho thấy khu vực công luôn tác động để DN đầu tư vào KH&CN. Vai trò của cơ chế, chính sách công khuyến khích DN đầu tư vào KH&CN Chính phủ luôn can thiệp vào các hoạt động xã hội dựa trên hệ thống pháp luật, thông qua các cơ chế, chính sách cụ thể để thay đổi hoặc điều chỉnh các tổ chức trong xã hội. Trong lĩnh vực KH&CN, vai trò của Nhà nước được thể hiện ở nhiều cách thức khác nhau, có thể trực tiếp, gián tiếp, có thể đan xen trong các tổ chức hoạt động KH&CN, dù ở giai đoạn lịch sử nào, cách thức nào Nhà nước luôn đóng vai trò rất quan trọng đối với hoạt động đầu tư vào KH&CN. Khái niệm về chính sách công Một cách chung nhất: là những chính sách do khu vực Chính phủ ban hành dựa trên một hệ thống pháp luật dưới dạng các văn bản qui phạm pháp luật như các quyết định, nghị định, thông tư.
tác động lên một đối tượng hoặc nhiều đối tượng nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể đã được đề ra. Xét từ khía cạnh quyền hạn và trách nhiệm, chính sách công được hiểu là “Bất cứ thứ gì mà Chính phủ lựa chọn để làm hoặc không” (Thomas Dye). “Chính sách công là tất cả các quyết định của Nhà nước, Chính phủ cho việc thực hiện đầy đủ các chương trình để đạt được các mục tiêu xã hội” (Charles L.Cochran và Eloise F. -Chính sách công là sự tương tác giữa những người ra quyết định và những người thực hiện, xét trong quan hệ tương quan, chính sách công “Đặt ra sự tương quan với những người thi hành/thực hiện quyết định từ Chính phủ hoặc một nhóm có nhiệm vụ liên quan đến việc lựa chọn các mục đích và biện pháp để đạt được trong phạm vi mà quyết định đã được ban hành, về nguyên tắc, trong phạm vi quyền hạn của những người ra quyết định” (William Jenkins, Policy Analysis: A Political and Organizational Perspective 1978).
-Là tổng thể những chính sách của Chính phủ tác động lên hoạt động của người dân, ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân “Chính sách công là tổng các hoạt động của Chính phủ, liên quan trực tiếp đến hoạt động hoặc thông qua các tác nhân (người hoạt động cho DN, hoặc đại lý, hoặc tổ chức xã hội.), ở chừng mực nào đó có ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân” (B. Điều đó cho thấy, chính sách công có phạm vi và đối tượng tác động lớn. Trong phạm vi hẹp, chính sách KH&CN công: Là phương thức ảnh hưởng/tương tác cùng với nghiên cứu và tác động dựa trên sự đầu tư. “Phạm vi ảnh hưởng của chính sách công là sự cân bằng giữa việc hỗ trợ cho NCCB và ứng dụng và kiểm tra hiệu quả của việc phổ biến trực tiếp và gián tiếp sự giúp đỡ của Nhà nước đến các ngành đặc biệt, cũng như hiệu quả của việc địa phương hóa và các chính sách NC&PT khác”(EC, tr.
Khu vực công đầu tư trong NC&PT được xem là một trách nhiệm trong một mô hình xã hội hiện đại, trong sự đóng góp cho sự tiến bộ tri thức thông qua NCCB, giúp đỡ sự sáng tạo và cạnh tranh xã hội một cách có hiệu quả. Nội dung về vai trò của chính sách công khuyến khích DN đầu tư vào KH&CN 2. Hoạt động KH&CN và cơ chế, chính sách khuyến khích chung Hoạt động KH&CN đã được OECD phân làm ba hoạt động chính là: NC&PT, công tác giáo dục và đào tạo KH&KT và dịch vụ KH&CN, phần lớn hoạt động NC&PT và phát triển công nghệ (PTCN) là nhân tố chính được đưa vào trong tất cả các cơ chế, chính sách khuyến khích, vì đó là hoạt động cơ bản nhất, đóng góp quan trọng nhất đối với sự tăng trưởng kinh tế. “NC&PT là hoạt động sáng tạo được thực hiện một cách hệ thống để tăng cường vốn tri thức, bao gồm tri thức về con người, văn hoá, xã hội và sử dụng vốn tri thức này để tìm ra các ứng dụng mới” (OECD, 2005).
Khung chính sách KH&CN: về cơ bản có những đặc điểm chung (nêu trong phần giới hạn vấn đề nghiên cứu), tuy nhiên khi nghiên cứu đến sự tác động, trọng tâm thường được nghiên cứu ở cách thức tác động, theo cách truyền thống nặng về can thiệp trực tiếp, những vấn đề chính sách ngày nay (OECD, 2005) giảm bớt người điều hành và phức tạp về thủ tục hành chính bằng cách: -Tìm kiếm tạo nên môi trường điều chỉnh kinh doanh-thân thiện: Cải thiện khung pháp luật, tài chính và khuôn khổ điều chỉnh, cắt bỏ những cái vướng mắc, linh hoạt điều chỉnh, trong thị trường lao động, áp dụng công nghệ truyền thông như Chính phủ điện tử và Internet. -Thông qua áp dụng cách đánh giá tiền kiểm (Ex-ante) mục đích đánh giá chất lượng của việc điều chỉnh mới và đề xuất hình thành luật, bảo đảm không trở thành gánh nặng cho DN, đặc biệt SMEs. Việc sử dụng phân tích tác động của việc điều chỉnh (RIAs) như công cụ của tiền kiểm. Hậu kiểm (Ex-post) bao gồm điều chỉnh những đơn giản và thông tin hiện tại.
Có sự tham dự của DN trong việc thỏa thuận, cải cách, điều chỉnh tốt hơn và khai thác những điều kiện thuận lợi từ cơ chế công nghệ thông tin. -Khuyến khích văn hóa DN và sáng tạo công ty: GD&ĐT là công cụ Chính phủ ưa sử dụng cho việc thúc đẩy DN; các cuộc vận động, trao giải thưởng đặc biệt có thể có hiệu quả cho việc thúc đẩy DN; cần thúc đẩy DN hoạt động trong các chương trình của Chính phủ. -Thúc đẩy các phương tiện đi đến tài chính: Vai trò của vốn mạo hiểm; Chính phủ phải đảm bảo hệ thống tài chính hoạt động hiệu quả. -Các chính sách cho đổi mới và công nghệ: thông qua hỗ trợ chi phí NC&PT cho SMEs; khuyến khích SMEs tham gia trong các mạng lưới đổi mới, hiệp hội nghiên cứu; các DN cần phải hiểu biết vấn đề hệ thống SHTT và sử dụng chúng một cách có hiệu quả.
-Tạo điều kiện thuận lợi để các DN dễ dàng tiếp cận thị trường thế giới; thúc đẩy chấp nhận cách thức kinh doanh điện tử; thúc đẩy phát triển kỹ năng và đào tạo quản lý; đánh giá chính sách và chương trình. Chức năng, nhiệm vụ của chính công trong việc khuyến khích DN 2. Khai thác sự đa dạng: Sự đa dạng bắt nguồn từ nhiều đối tượng, sự kiện, các hoạt động khác như: hoạt động KH&CN, được tạo ra từ các tổ chức, mục tiêu KT-XH, sự đa dạng của nhân tố sẵn có (factor endowments), từ các sản phẩm và phương pháp sản xuất, từ trong hành vi của con người, từ công nghệ, các NL có liên quan và quá trình học hỏi, từ cơ chế, chính sách.Ngoài ra sự đa dạng còn phát sinh từ trong quá trình học hỏi, hệ thống đổi mới của địa phương, quốc gia. Điều quan trọng của cơ chế, chính sách công là khai thác được sự đa dạng bằng phương pháp khác nhau để tạo ra giá trị mới.
Lựa chọn sự đa dạng trước khi khai thác sự đa dạng, Charles Edquist đã cho rằng cần phải có những cách thức lựa chọn sau: -Lựa chọn thông qua cơ chế thị trường: cơ chế thị trường sẽ tạo ra chức năng hướng dẫn việc chọn lọc các loại “tốt” và loại trừ những cái khác. -Lựa chọn những cái phổ cập: hệ thống phổ cập tri thức luôn đòi hỏi phải thực hiện việc phổ cập những tri thức cơ bản nhất trong toàn bộ xã hội, cho người lao động phổ thông đến các chuyên gia, trên cơ sở các tiêu chuẩn hóa tri thức trong hệ thống luật pháp. Trong phương thức sản xuất phát triển gần đây, truyền bá, lưu giữ và tham gia soạn thảo luật liên quan đến tri thức là một chìa khóa cho sự phát triển tính đa dạng. -Lựa chọn thông qua việc phổ biến: phổ biến tri thức mới một cách chọn lọc, nhằm giảm thiểu sự đa dạng của công nghệ đi vào các tiêu chuẩn, trên cơ sở bảo đảm duy trì tính đa dạng của công nghệ.
Sự đa dạng bắt nguồn từ sự khác nhau của công nghệ, chìa khóa của sự ổn định là ‘tập hợp các tác nhân’, các hành vi dẫn đầu đến nhiều hình thức ổn định với việc mang lại sự thay đổi lâu dài hơn sự thay đổi công nghệ. Vai trò của Chính phủ là biết khai thác để quản lý và vận dụng vào thực tiễn. “Điều đó đã thành công, ở châu Âu đã có lợi ích đặc biệt từ việc khai thác các giá trị kinh tế tiềm năng của sự đa dạng, tuy nhiên một cách rõ ràng hơn, các kết quả về hiệu quả của sự tác động tính đa dạng một cách tự nhiên mà chính sách cần phải có là ‘sự ổn định’ điều đó vô cùng khác với những qui tắc vẫn đang tồn tại” (Charles Edquist, 1997). Sự đa dạng có những đặc điểm sau: 1) Sự đa dạng của hành vi là nền tảng cho sự hiểu biết của DN.
Sự thay đổi khác nhau về công nghệ liên quan đến nhiều sự thay đổi khả năng, quá trình học hỏi và với những người lãnh đạo, sự thay đổi về công nghệ được miêu tả như một tiến trình của sự phát triển; 2) Hiểu biết các cơ chế phát sinh ra sự đa dạng, một cách riêng biệt là sự phối hợp giữa sự đa dạng và học hỏi; 3) Không thể tách rời các lý thuyết ứng dụng từ việc lựa chọn sự đa dạng.