CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA TỰ CHỦ ĐẾN KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC ĐƠN VỊ SỰ NGHIỆP KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP 1. Các nghiên cứu về tự chủ của đơn vị sự nghiệp khoa học công nghệ công lập Tự chủ có thể được định nghĩa là mức độ mà chủ thể có thể đưa ra quyết định quan trọng mà không cần sự đồng ý của chủ thể khác. Ở các cấp độ phân tích khác nhau, có thể xem xét quyền tự chủ của các cá nhân trong một tổ chức hoặc quyền tự chủ chính tổ chức đó. Nhìn chung, các công trình nghiên cứu về tự chủ được NCS tổng hợp theo các hướng sau: 1.
Nghiên cứu về bản chất và tiêu chí đo lường tự chủ của các đơn vị công lập Quyền tự chủ thực tế của một tổ chức không chỉ đơn giản là tổng các quyền hạn được giao mà là kết quả của một quá trình thể chế hóa dần dần, qua đó tổ chức có được một bản sắc riêng biệt và một sứ mệnh tổ chức nhất quán có thể khác với nhiệm vụ ban đầu của tổ chức (Selznick, 1957). Theo Wilson (1989), một đặc điểm nữa của các tổ chức có tính tự trị cao là sự thay đổi quyền quyết định và ít ràng buộc do những người nắm giữ chức vụ chính trị áp đặt. Quá trình dần dần thể chế hóa sau khi chính thức thành lập một tổ chức công, đặc biệt là việc tạo ra tính hợp pháp bên ngoài giữa các bên liên quan, có thể được định hình một cách có chủ ý thông qua các chiến lược quản lý. Groenleer (2009) liệt kê bốn chiến lược như vậy: (1) sự khác biệt với các tổ chức khác bằng cách trau dồi tính độc đáo của năng lực tổ chức, (2) khẳng định quyền tự quyết của tổ chức đối với cấp trên chính trị, (3) sự cẩn trọng cân bằng các nhu cầu (có thể xung đột) của các đối tượng khác nhau và (4) kết nối với các tổ chức khác, với điều kiện rằng các mối quan hệ tương đối đó là hợp tác và dựa trên lợi ích chung hoặc lợi ích bổ sung.
Do đó, chiến lược hợp tác của các bên liên quan có thể dẫn đến mức độ tự chủ hành chính thực tế cao hơn chứ không phải thấp hơn (Groenleer, 2009; Selznick, 1957). Molnar và Rogers (1976) mô tả quyền tự chủ là mức độ mà một tổ chức có thể tự do thực hiện quyết định liên quan đến hoạt động riêng của mình. Tự chủ có thể được định nghĩa là khả năng của các tổ chức đưa ra quyết định của riêng họ về các vấn đề nội bộ và sắp xếp. Đây là một khía cạnh quan trọng của quản lý công.
Đối với các tổ chức công, mức độ tự chủ của tổ chức liên quan đến mức độ ủy quyền được trao cho bởi Chính phủ. Hay nói cách khác, tự chủ có nghĩa là năng lực của tổ chức trong việc tự quản mà không phụ thuộc vào các cơ quan khác (Lorsuwannarat, 2008). Nói chung, 9 quyền tự chủ có thể được phân loại thành bốn khía cạnh được đề xuất bởi Christensen và cộng sự (2008): tự chủ cấu trúc, tự chủ tài chính, tự chủ pháp lý và tự chủ can thiệp. Tự chủ về cấu trúc cho phép tổ chức độc lập về mặt lựa chọn cấu trúc tổ chức riêng và hệ thống quản trị có thể.
Tự chủ tài chính cho phép tổ chức quyết định nội bộ làm thế nào để chi tiêu nguồn tài chính của họ, nhưng điều đó cũng có nghĩa là tổ chức cần tìm nguồn thu nhập bổ sung thay vì chỉ dựa vào tài trợ của chính phủ. Tổ chức cũng sẽ chịu trách nhiệm cho bất kỳ tổn thất tài chính phát sinh. Tự chủ pháp lý cho phép cơ quan độc lập thực hiện quyết định ràng buộc pháp lý. Tự chủ can thiệp có nghĩa là cơ quan chủ yếu được trao độc lập trong điều khoản trách nhiệm và thẩm quyền của mình.
Theo Turo Virtanen, (1997) đã tiến hành khảo sát 280 người là nhà quản lý công tại 17 tổ chức công ở Phần Lan khác nhau vào năm 1996 và đưa ra kết luận khi thực hiện tự chủ tài chính, các tổ chức công, đặc biệt là người đứng đầu phải có trách nhiệm giải trình với bên trong (tức là các cơ quan quản lý cấp trên) và giải trình bên ngoài (tức là giải trình với các “khách hàng” sử dụng dịch vụ công mà do tổ chức cung ứng). Tác giả cũng nhấn mạnh, với các tổ chức công thì trách nhiệm với bên ngoài có ý nghĩa to lớn hơn. Bouckaert, Peters, Verhoest và Verschuere (2002) đã chỉ ra 6 khía cạnh có liên quan đến tự chủ tổ chức bao gồm: tự chủ trong quản lý điều hành, tự chủ chính sách, tự chủ cấu trúc, tự chủ tài chính, tự chủ pháp lý và tự chủ can thiệp. Các tác giả đã sử dụng thang đo Likert 5 điểm, từ (5) tự mình đưa ra các quyết định, cơ quan quản lý chỉ tham gia một chút, (4) tự mình đưa ra các quyết định, đã tham khảo ý kiến của cơ quan quản lý, (3) tự đưa ra các quyết định trong một khung các quy tắc và điều kiện do cơ quan quản lý đặt ra , (2) Cơ quan quản lý đưa ra quyết định, tổ chức được hỏi ý kiến và (1) cơ quan quản lý đưa ra quyết định độc lập với tổ chức.
Với nghiên cứu này, các tác giả không chỉ làm rõ hơn các khía cạnh của tự chủ mà còn phân tích được mối liên hệ giữa quyền tự chủ của các tổ chức công lập và sự chỉ đạo, kiểm soát của chính quyền trung ương. Verhoest và cộng sự (2004) đã nghiên cứu một cách rõ ràng và có hệ thống về các nghiên cứu có liên quan đến tự chủ trong tổ chức. Nghiên cứu này phân loại các góc độ tiếp cận khác nhau về tự chủ từ việc hệ thống hóa các công trình trước đây theo 3 tiêu chí: (1) về mặt thuật ngữ; (2) về mặt phân tích và (3) về mặt phương pháp luận. Ngoài ra, các tác giả cũng tiến hành chứng minh tầm quan trọng của việc phân biệt và nhận ra các khía cạnh khác nhau của quyền tự chủ khi nghiên cứu ảnh hưởng của quyền tự chủ đối với hoạt động của các tổ chức công cộng thông qua việc nghiên cứu thực nghiệm quyền tự chủ tại các tổ chức công ở Flanders.
10 Caughey và cộng sự (2009) hiểu tự chủ tổ chức ở 2 nội dung là tự chủ ý chí và tự chủ hành động. Để phát triển tính tự chủ về ý chí, trước tiên tổ chức đòi hỏi phải có 'sự gắn kết hành chính' để vượt qua những trở ngại đối với hành động tập thể và tương tác với các chủ thể chính trị như một thực thể tổ chức thống nhất. Sự liên kết làm cho tổ chức xây dựng một hệ thống mục tiêu thống nhất, cho phép các thành viên của mình làm việc hướng tới cùng một mục tiêu. Quyền tự chủ hành động đề cập đến khả năng của một cơ quan quản lý để chuyển các mục tiêu này thành hành động.
Quyền tự chủ hành động càng lớn khi các cơ quan quản lý cấp trên ít tham gia vào sự sắp xếp các hoạt động của tổ chức. Kleizen và cộng sự (2018) tập trung nghiên cứu tự chủ trong chính sách mà nhấn mạnh tự chủ chính sách chiến lược. Theo tác giả, tự chủ trong chính sách bao gồm tự chủ chính sách hoạt động và tự chủ chính sách chiến lược. Tự chủ chính sách chiến lược theo một cách nào đó có thể được coi là kiểu tự chủ tổ chức xa nhất và quan trọng nhất.
cho phép một tổ chức xác định sứ mệnh và chức năng xã hội riêng, thay vì là người thực hiện thụ động các chiến lược được tạo ra trên cấp độ chính trị. Nghiên cứu đánh giá thực trạng tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập Jung, Yong – Nam (2019) nghiên cứu về Quyền tự chủ và Kiểm soát trong các Viện Nghiên cứu Khu vực Công liên quan đến Khoa học và Công nghệ: So sánh giữa Hoa Kỳ và Hàn Quốc. Mục đích của nghiên cứu này là so sánh quyền tự chủ và kiểm soát của các Viện nghiên cứu do Chính phủ Hàn Quốc hỗ trợ và Phòng thí nghiệm quốc gia Hoa Kỳ, cơ quan kiểu mẫu của GSRI Hàn Quốc. Kết quả của nghiên cứu cho thấy cần tăng cường liên kết với Bộ để đảm bảo trách nhiệm của các GSRI ở Hàn Quốc.
Ngoài ra, xem xét đặc điểm của các viện nghiên cứu, nên tránh việc chính phủ bổ nhiệm giám đốc hoặc thường xuyên tái cơ cấu các GSRI. Kết quả nghiên cứu hàm ý rằng trong quá trình lập kế hoạch, cần mở rộng vai trò của các nhà nghiên cứu. Hơn nữa, để duy trì mức độ tự chủ và kiểm soát thích hợp, điều quan trọng là phải thừa nhận vai trò của PSRI, xây dựng mối quan hệ tin cậy giữa các bộ và viện nghiên cứu, và hình thành văn hóa trách nhiệm giữa các nhà nghiên cứu và viện. (2018) đã nghiên cứu tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập ở Việt Nam.
Tác giả tập trung nghiên cứu các đơn vị trong lĩnh vực giáo dục và y tế. Nội dung của tự chủ được tác giả đề cập ở đây gồm tự chủ tài chính và tự chủ nhân sự. Công trình của tác giả đã làm rõ được những lý luận cơ bản về tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập. Thông qua tìm hiểu các chính sách, văn bản pháp lý của nhà nước, các báo cáo của Chính phủ, đặc điểm của các đơn vị sự nghiệp công và các cuộc phỏng vấn sâu đối với cán bộ quản lý và nhân viên đơn vị sự nghiệp công, tác giả 11 phản ánh thực trạng, mức độ tự chủ các các đơn vị sự nghiệp công trong lĩnh vực y tế và giáo dục.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, các đơn vị sự nghiệp công lập bị hạn chế rất nhiều trong vấn đề quản lý nhân sự và tài chính bởi những ràng buộc theo lối mòn truyền thống của các cơ quan quản lý cấp trên. Tài chính và nhân sự đều thực hiện theo sự phân bổ, quyết định của cấp trên mà chưa có quyền tự quyết một cách độc lập, triệt để. Mai Ngọc Cường - chủ nhiệm đề tài cấp bộ (2007), “Điều tra thực trạng và khuyến nghị giải pháp thực hiện tự chủ về tài chính ở các trường Đại học Việt Nam” Bài viết có cả ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn, phân tích mặt được và mặt trái của tự chủ đại học. Tác giả tiến hành điều tra mức độ tự chủ tài chính của các trường đại học và đưa ra khuyến nghị thiết thực.