PHẦN MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, khoa học kỹ thuật, thƣơng mại…đã làm tiền đề cho sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung cũng nhƣ Việt Nam nói riêng. Việt Nam là một nƣớc phát triển và có những tiềm lực về tài nguyên, con ngƣời…để đón nhận những cơ hội thúc đẩy kinh tế. Ngoài ra việc gia nhập WTO cũng mở ra cơ hội và thách thức cho các công ty Việt Nam trong việc hội nhập và phát triển.
Điều đó đặt ra cho các công ty Việt Nam phải mạnh dạn đổi mới và nâng cao chất lƣợng, hiệu quả hoạt động của mình. Hiện nay các công ty đã đón đầu trƣớc cơ hội này bằng việc mở rộng quy mô kinh doanh thông qua hình thức phát hành cổ phần huy động các nguồn lực kinh tế tham gia. Việc đầu tƣ vào các công ty cổ phần thu hút các thành phần kinh tế khác nhau nhƣ cá nhân nhỏ lẻ, nhà đầu tƣ nƣớc ngoài, các tổ chức, các quỹ đầu tƣ … Tuy nhiên việc đầu tƣ của những thành phần kinh tế này không chỉ mang lại nguồn vốn mà còn ảnh hƣởng đến hiệu quả, chất lƣợng hoạt động của công ty vì mỗi thành phần kinh tế đều có những mục đích riêng khi đầu tƣ. Cùng với sự phát triển của thị trƣờng chứng khoán, số lƣợng các công ty niêm yết tăng dần qua các năm.
Một trong những vấn đề đang đƣợc quan tâm từ nhiều bên liên quan là vấn đề về hiệu quả hoạt động của công ty. Các nhóm cổ đông khác nhau thì có những quyền lợi và lợi ích khác nhau nên có ảnh hƣởng lớn đến những quyết định của công ty và tác động đến hiệu quả hoạt động của công ty. Đã có nhiều nghiên cứu xem xét tác động của cấu trúc sở hữu lên hiệu quả hoạt động tuy nhiên kết quả chƣa thống nhất. Tái cấu trúc nền kinh tế hiện nay đang là một trong những chiến lƣợc phát triển quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam.
Để góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty, đòi 2 hỏi phải nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu để từ đó có những đánh giá sát thực về cấu trúc sở hữu của các công ty, phân tích những nguyên nhân để đƣa ra những khuyến nghị tái cấu trúc sở hữu cho các công ty. Xuất phát từ lý do trên, tôi đã chọn đề tài “Nghiên cứu ảnh hƣởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết trên Thị trƣờng chứng khoán Việt Nam” để làm luận văn tốt nghiệp. Mục tiêu nghiên cứu Xác định mức ảnh hƣởng của cấu trúc sở hữu tới hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết. Trên cơ sở đó đề xuất các khuyến nghị nhằm tái cấu trúc sở hữu để góp phần gia tăng hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 3. Đối tƣợng nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến cấu trúc sở hữu, sự ảnh hƣởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu sự ảnh hƣởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của 50 công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam trong giai đoạn 2013-2015. Phƣơng pháp nghiên cứu - Thu thập thông tin để kiểm định sự ảnh hƣởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động từ báo cáo tài chính sau kiểm toán giai đoạn 2013-2015 của 50 công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam.
- Xây dựng giả thuyết nghiên cứu dựa trên các lý thuyết về cấu trúc sở hữu và kết quả của các nghiên cứu trƣớc về ảnh hƣởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động. 3 - Sử dụng mô hình hồi quy dạng bảng bằng phƣơng pháp định lƣợng để kiểm định giả thuyết về ảnh hƣởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của 50 công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán Việt Nam. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn Về lý thuyết: đề tài này kiểm chứng lý thuyết về ảnh hƣởng của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động, đồng thời giúp giải thích cho cấu trúc sở hữu của các công ty ở Việt Nam. Về thực tiễn: đề tài này giúp nhận diện đƣợc sự tác động của cấu trúc sở hữu ảnh hƣởng đến hiệu quả hoạt động của các công ty tại Việt Nam.
Từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm tái cấu trúc sở hữu để góp phần gia tăng hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết ở Việt Nam. Bố cục của luận văn Nội dung chính gồm những phần sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết tác động của cấu trúc sở hữu đến hiệu quả hoạt động của công ty Chƣơng 2: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 4: Hàm ý chính sách và kết luận 7. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Một số nghiên cứu tại các quốc gia phát triển Các công trình nghiên cứu đầu tiên về mối liên hệ giữa cấu trúc sở hữu và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp xuất hiện ở Mỹ, nơi có thị trƣờng tài chính phát triển lâu đời. Trong nghiên cứu về các ảnh hƣởng của cấu trúc sở hữu, Demsetz (1983)[15] đã cho rằng cấu trúc sở hữu cần đƣợc xem xét là một biến nội sinh (endogenous variable) và nó phản ánh các tác động của thị trƣờng tài chính đối với cổ phiếu của doanh nghiệp.
Khi chủ sở hữu của các công ty cổ phần quyết định bán các cổ phiếu đang nắm giữ hay các cổ đông 4 mua thêm cổ phiếu phát hành thêm của các công ty đại chúng, thực tế là họ đang làm thay đổi cấu trúc sở hữu của doanh nghiệp (quyền sở hữu của doanh nghiệp đƣợc phân tán hay lan tỏa giữa các chủ sở hữu hơn nữa). Các quyết định nhƣ mua hay bán cổ phiếu của doanh nghiệp phản ánh mong muốn của các chủ sở hữu hiện tại và chủ sở hữu tiềm năng đối với doanh nghiệp. Nhƣ vậy, cấu trúc sở hữu bất kể là theo hình thức tập trung hay phân tán đều phản ánh mục tiêu tối đa hóa lợi ích cho các cổ đông trong doanh nghiệp. Trong bài nghiên cứu về mối quan hệ giữa hành vi nhà quản trị, chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu, Michael Jensen và William Meckling (1976)[25] đã đặt giả thiết tỷ lệ sở hữu của ban quản lý doanh nghiệp là yếu tố ngoại sinh và sử dụng phƣơng pháp bình phuơng nhỏ nhất (OLS) để thực hiện nghiên cứu.
Kết quả của nghiên cứu đã cung cấp những chứng cứ về việc tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa tỷ lệ sở hữu của Ban giám đốc và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, cụ thể tỷ lệ sở hữu cổ phần của thành viên ban quản lý càng lớn thì các quyết định của Ban quản lý càng có xu hƣớng nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng nhƣ bám sát theo mục tiêu cuối cùng của quản trị doanh nghiệp là tối đa hóa giá trị tài sản chủ sở hữu. Tuy nhiên, nghiên cứu thực chứng của Cho (1998)[13] về cấu trúc sở hữu, đầu tƣ và giá trị doanh nghiệp cho thấy tồn tại mối quan hệ ngƣợc giữa mức độ sở hữu của Ban giám đốc và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Sử dụng các hệ phuơng trình hồi quy OLS chéo, các tác giả đã tìm ra ảnh huởng tích cực của đầu tƣ tới giá trị doanh nghiệp, đồng thời giá trị doanh nghiệp lại ảnh huởng lên cấu trúc sở hữu nội bộ. Hầu hết các nghiên cứu đều cho rằng tại các doanh nghiệp sở hữu đại chúng ở Anh và Mỹ, quyền lực của các nhà quản lý trong các doanh nghiệp là rất lớn do nhóm cổ đông thiểu số không có động lực trong việc giám sát doanh nghiệp hoặc do việc kiểm soát cần có quy trình và chi phí cận biên của 5 việc kiểm soát lớn hơn lợi ích cận biên của việc gia tăng hiệu quả hoạt động, hoạt động kiểm soát trở thành hàng hóa công cộng khi mà các cổ đông có lợi trong việc giám sát của những cổ đông khác (Stiglitz, 1982)[40].
Đồng thời do tính thanh khoản cao của thị truờng Anh và Mỹ, vì vậy các cổ đông cũng không có sự ràng buộc hay gắn bó lâu dài đối với các doanh nghiệp, từ đó dẫn đến việc thiếu động cơ giám sát các nhà quản lý tại các doanh nghiệp. Tại các quốc gia này, sự mâu thuẫn giữa các nhà quản lý và chủ sở hữu doanh nghiệp, quyền lực của nhà quản lý trong doanh nghiệp, có thể dẫn đến các vấn đề về ngƣời đại diện (agency problem), cụ thể nhƣ (i) các nhà quản lý lạm dụng quyền lực của mình để thực hiện các hành vi phục vụ lợi ích cá nhân; (ii) các nhà quản lý chỉ ƣu tiên mục tiêu phát triển quy mô hoạt động kinh doanh mà không đặt mục tiêu gia tăng giá trị cho các nhà đầu tƣ lên hàng đầu (Jensen 1986, Stiglitz và Edlin 1995, Shleifer và Vishny 1998)[13]. Các nghiên cứu về tác động của sở hữu tổ chức (institutional Ownership) tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm và các kết luận của các nghiên cứu về vấn đề này không giống nhau. Theo quan điểm của hai tác giả, các tổ chức đầu tƣ thƣờng chuyên nghiệp hơn các nhà đầu tƣ cá nhân, do họ là những chuyên gia kinh nghiệm trên thị trƣờng vốn và thƣờng có kinh nghiệm rất nhiều trong đầu tƣ.
Ngoài ra, do cổ phần họ nắm giữ thƣờng là cao nên họ có động lực lớn hơn trong việc giám sát hành vi của các nhà quản trị doanh nghiệp với chi phí thấp hơn. Hart & Starks (2003)[21] cũng chỉ ra rằng sở hữu tổ chức có tác động tích cực tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Tuy nhiên, một số nghiên cứu khác lại chỉ ra kết luận là sở hữu tổ chức tác động tiêu cực tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nguyên nhân của vấn đề 6 này là do các nhà đầu tƣ tổ chức thƣờng có những lợi ích ngắn hạn và chính điều này có thể mâu thuẫn với các mục tiêu dài hạn của doanh nghiệp.
Do vậy, với quyền lực to lớn của mình, các nhà đầu tƣ tổ chức có thể gây ảnh hƣởng và tác động lên các quyết định của đội ngũ quản trị nhằm phục vụ cho các lợi ích ngắn hạn của họ (Pound 1988 & Hand 1990)[38].