MỞ ĐẦU 1. Tóm tắt: Trong luận văn này tác giả nghiên cứu tác động của cấu trúc sở hữu và đặc điểm của hội đồng quản trị lên chi phí đại diện đối với các công ty niêm yết trên sàn HOSE. Tác giả sử dụng chỉ tiêu hiệu suất sử dụng tài sản và chi phí hoạt động/doanh thu để đo lường chi phí đại diện, sử dụng mô hình ước lượng hồi quy tuyến tính bội theo phương pháp OLS để đánh giá tác động của các nhân tố trên lên chi phí đại diện. Mẫu gồm 77 công ty niêm yết tại HOSE trong thời gian 2 năm (năm 2010 và 2011).
Kết quả tác giả tìm thấy mức độ giải thích của mô hình (được đo lường bằng chỉ tiêu R2 điều chỉnh) khi sử dụng biến phụ thuộc là chi phí hoạt động/doanh thu thấp hơn so với hiệu suất sử dụng tài sản. Theo đó, kết quả hồi quy đối với biến hiệu suất sử dụng tài sản cho thấy: (i) Tương quan nghịch chiều với tỷ lệ sở hữu nội bộ; (ii) Tương quan thuận chiều với tỷ lệ thành viên nữ trong hội đồng quản trị; (iii) Không tìm thấy mối tương quan có ý nghĩa với tỷ lệ sở hữu của các cổ đông lớn bên ngoài và các đặc điểm khác của hội đồng quản trị: quy mô, tỷ lệ thành viên tham gia điều hành, tỷ lệ thành viên độc lập. Giới thiệu chung: Trong các công ty lớn sự phân định giữa quyền sở hữu và quyền quản lý là điều hết sức cần thiết và là xu hướng tất yếu của các doanh nghiệp hiện đại. Bên cạnh những hiệu quả mang lại, việc phân định này cũng làm nảy sinh những nguy cơ khiến cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp không ở mức tối ưu, gây thiệt hại cho các chủ sở hữu.
Đó là khi mục tiêu của các chủ sở hữu và người quản lý không giống nhau. Nghiên cứu của Jensen & Meckling (1976) về lý thuyết đại diện là một trong những nghiên cứu tiền đề đặt nền móng cho nhiều nghiên cứu thực nghiệm sau này trên thế giới. Rất nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để tìm hiểu mối tương quan giữa chi phí đại diện với cấu trúc sở hữu, cấu trúc tài chính, và cơ chế điều hành. Chẳng hạn, Ở Mỹ khi nghiên cứu về mối tương quan giữa chi phí đại 123doc 2 diện với cấu trúc sở hữu và cơ chế điều hành không thể không nhắc đến 2 nghiên cứu của Ang và các cộng sự (1999), Singh & Davidson (2002).
Ở Anh có nghiên cứu Phillip J.McKnight & Charlie Weir (2009). Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây Quản trị công ty đã được biết đến như một thuật ngữ quen thuộc và ngày càng nhận được nhiều sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều học giả, cộng đồng kinh doanh và cả nhà chức trách. Tuy nhiên, chi phí đại diện, một khái niệm trong một đề tài lớn về Quản trị công ty vẫn chưa nhận được sự quan tâm nhiều của mọi người. Xuất phát từ thực tiễn trên, và với mong muốn đưa đề tài chi phí đại diện đến gần hơn nữa với mọi người, trên cơ sở 2 cuộc nghiên cứu của Ang và các cộng sự (1999), Singh & Davidson (2002), tác giả đã tiến hành nghiên cứu về mối tương quan giữa chi phí đại diện với cấu trúc sở hữu và cơ chế điều hành mà cụ thể là đặc điểm của hội đồng quản trị trong môi trường Việt Nam.
Đóng góp của luận văn là: Thứ nhất, tác giả thực hiện nghiên cứu định lượng, cung cấp các chỉ tiêu đo lường trực tiếp chi phí đại diện, và đo lường mối tương quan giữa chi phí đại diện với các nhân tố về cấu trúc sở hữu, đặc điểm hội đồng quản trị. Các nghiên cứu trước đây các học giả thường nghiên cứu chi phí đại diện dưới góc độ lý luận; Thứ hai, tác giả sử dụng các biến đặc điểm của hội đồng quản trị về: số lượng thành viên, tỷ lệ thành viên độc lập, tỷ lệ thành viên điều hành và tỷ lệ thành viên nữ khi xem xét tác động của các nhân tố này lên chi phí đại diện. Các nghiên cứu trước đây về Quản trị công ty khi xem xét đặc điểm hội đồng quản trị, các học giả thường xem xét việc kiêm nhiệm vị trí Tổng giám đốc của Chủ tịch hội đồng quản trị hay tỷ lệ sở hữu cổ phần của hội đồng quản trị. Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy mức độ giải thích của mô hình (được đo lường bằng chỉ tiêu R2 điều chỉnh) khi sử dụng biến phụ thuộc là chi phí hoạt động/doanh thu thấp hơn so với hiệu suất sử dụng tài sản.
Theo đó, kết quả hồi quy đối với biến hiệu suất sử dụng tài sản cho thấy: tỷ lệ sở hữu cổ phần nội bộ càng cao thì chi phí đại diện càng lớn; thành viên nữ trong hội đồng quản trị có hiệu quả trong việc giảm chi phí đại diện; việc giám sát của cổ đông lớn bên ngoài và các 123doc 3 đặc điểm khác của hội đồng quản trị (quy mô, thành viên điều hành, thành viên độc lập) không tác động có ý nghĩa đến chi phí đại diện. Ngoài ra, tác giả còn tìm thấy đòn bẩy tài chính (hay sự giám sát của ngân hàng) không có tác dụng làm giảm chi phí đại diện. Phần tiếp theo của luận văn tác giả trình bày một vài nghiên cứu trên thế giới và ở Việt Nam liên quan đến chi phí đại diện, cấu trúc sở hữu và đặc điểm của hội đồng quản trị. Chương 2 tác giả trình bày phương pháp nghiên cứu, dữ liệu, kết quả và lý giải kết quả nghiên cứu.
Chương 3 là kết luận, những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 123doc 4 CHƢƠNG I NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CẤU TRÚC SỞ HỮU VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ LÊN CHI PHÍ ĐẠI DIỆN 1. Các nghiên cứu trên thế giới: 1. Sở hữu của nhà quản lý và chi phí đại diện (Managerial ownership and agency costs): Hiệu ứng “hội tụ lợi ích” (convergence of interest) của Jensen (1976) cho rằng tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà quản lý giúp lợi ích của chủ sở hữu và nhà quản lý thống nhất với nhau, và khi tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà quản lý tăng, hiệu quả hoạt động của công ty cũng tăng lên.
Morck và các cộng sự (1988), McConnell & Servaes (1990, 1995), Kole (1995) xem xét mối quan hệ phi tuyến giữa mức độ sở hữu nội bộ và hiệu quả hoạt động của công ty. Morck và các cộng sự (1988) đã báo cáo rằng tồn tại mối tương quan dương giữa mức độ sở hữu cổ phần của nhà quản lý và giá trị công ty (đo lường bằng Tobin’s Q) khi mức độ sở hữu cổ phần nằm trong khoảng từ 0% - 5% và trên 25%, và tồn tại mối tương quan âm khi mức độ sở hữu cổ phần từ 5% - 25%. Họ tìm thấy hiệu ứng “hội tụ lợi ích” xuất hiện ở cả hai mức độ sở hữu cổ phần của nhà quản lý nhỏ hơn và lớn hơn, trong khi đó ở mức độ sở hữu từ 5% - 25% thì lại xuất hiện hiệu ứng “ngăn chặn” (entrenchment) giải thích cho mối tương quan âm giữa giá trị công ty và mức độ sở hữu cổ phần của nhà quản lý. Trong vùng này, nhà quản lý vì lợi ích cá nhân đã đưa ra các quyết định tiêu tốn nhiều chi phí hơn mức cần thiết và do đó làm giảm giá trị công ty.
Short & Keasey (1999) cũng đã báo cáo rằng tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa mức độ sở hữu của nhà quản lý và giá trị công ty khi phân tích mẫu là các công ty ở Anh Quốc. McConnell & Servaes (1990, 1995), sử dụng phương trình hồi quy bậc hai để đo lường mối tương quan giữa mức độ sở hữu của nhà quản lý và giá trị của công ty (đo lường bằng Tobin’s Q), họ phát hiện đồ thị biểu diễn mối tương 123doc 5 quan là đường cong lồi. Kết quả của họ cho thấy rằng tồn tại mối tương quan dương khi mức độ sở hữu cổ phần của nhà quản lý từ 40% - 50%, và tương quan âm khi mức độ sở hữu lớn hơn. Kole (1995) khác với kết quả của Morck và các cộng sự (1988) và McConnell & Servaes (1990, 1995) về tỷ lệ khi họ sử dụng mẫu là các công ty nhỏ.
Kết quả của họ cho thấy rằng hiệu ứng “hội tụ lợi ích” xuất hiện khi mức độ sở hữu cổ phần của nhà quản lý ở vùng lớn hơn. Theo Kole (1995), mức độ sở hữu cổ phần của nhà quản lý có thể tác động đến các công ty lớn và nhỏ một cách khác nhau. Điều này quan trọng để xác định liệu rằng mức độ sở hữu cổ phần của nhà quản lý có tác động đến chi phí đại diện một cách khác nhau thông qua quy mô hoạt động của công ty khác nhau. Ang và các cộng sự (1999) đã kiểm tra mối quan hệ giữa chi phí đại diện và mức độ sở hữu cổ phần của nhà quản lý đối với các công ty có quy mô nhỏ ở Mỹ, sau đó Singh & Davidson (2002) đã phát triển nghiên cứu của Ang và các cộng sự (1999) đối với các công ty có quy mô lớn.
Hai nghiên cứu này sẽ được tác giả nêu rõ ở phần dưới đây. Sở hữu lớn bên ngoài và chi phí đại diện (Outside block ownership and agency costs): Cổ đông sở hữu lớn bên ngoài nói chung hành động như những nhà giám sát và có thể là công cụ tạo ra hiệu quả hoạt động vượt trội cho công ty. Chẳng hạn, Holderness & Sheeham (1985), và Barclay & Holderness (1991) cung cấp những bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng hiệu quả quản lý gia tăng và giá cổ phiếu tốt hơn sau các vụ mua cổ phần lớn (block share purchases). Shome & Singh (1995) và Allen & Phillips (2000) báo cáo rằng hiệu quả hoạt động đã được cải thiện sau những vụ mua cổ phần lớn.
Bethel và các cộng sự (1998) cung cấp những bằng chứng xa hơn đối với các nhà đầu tư năng động sở hữu lớn cổ phần (activist block purchases) thông qua các cuộc tái cấu trúc công ty, giá cổ phiếu tăng bất thường, lợi nhuận hoạt động tăng lên. Tuy nhiên, Cai và các cộng sự (2001) tìm thấy quan hệ nhân quả có thể đi theo hướng ngược lại. Đó là, giá cổ phiếu tốt dường như thu hút các nhà đầu tư tổ chức. Quy mô, thành phần hội đồng quản trị và chi phí đại diện (Board size and composition as agency deterrent mechanism): Các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh tầm ảnh hưởng của quy mô và thành phần của hội đồng quản trị có thể có đến các vấn đề trong công ty.