Tổng quan nghiên cứu

Chăn nuôi lợn giữ vị trí trụ cột trong cơ cấu nông nghiệp Việt Nam, đóng góp trên 60% tổng sản lượng thịt tiêu thụ nội địa và phục vụ định hướng xuất khẩu. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, đàn lợn cả nước vào tháng 10/2017 đạt trên 27,4 triệu con với sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng đạt 3,73 triệu tấn; đến tháng 12/2018 đàn lợn tăng trưởng 3,2% đưa sản lượng đạt 3,8 triệu tấn. Tuy nhiên, sang đầu năm 2019, sự bùng phát của dịch tả lợn châu Phi đã buộc phải tiêu hủy 2,82 triệu con, chiếm khoảng 10% tổng đàn, làm tổng đàn cả nước giảm 10,3% trong 6 tháng đầu năm. Bên cạnh thách thức dịch bệnh, ngành chăn nuôi Việt Nam vẫn đối mặt với năng suất giống còn thấp so với các quốc gia tiên tiến. Điển hình tại Đan Mạch, chỉ với đàn giống trên 1 triệu con đã sản xuất gần 28 triệu lợn thịt thương phẩm mỗi năm nhờ nái Landrace và Yorkshire đạt tới 38,4 con cai sữa/nái/năm và 16,1 con cai sữa/ổ theo công bố của Danbred.

Tại tỉnh miền núi Hòa Bình, phương thức chăn nuôi nhỏ lẻ chiếm tỷ trọng lớn và chất lượng con giống chưa đồng đều. Trước thực tế đó, Trung tâm Giống cây trồng, Vật nuôi và Thủy sản tỉnh Hòa Bình đã nhập đàn lợn ông bà, bố mẹ từ Trạm nghiên cứu và phát triển giống lợn hạt nhân Tam Điệp (Ninh Bình) nhằm cải tạo đàn giống địa phương. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chăn nuôi của tác giả Phùng Thị Mỵ tại Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên (2019) thực hiện mục tiêu đánh giá toàn diện năng suất sinh sản của đàn nái ông bà thuần chủng (Landrace, Duroc), đàn nái bố mẹ F1 (Yorkshire × Landrace) khi phối với đực Duroc và đực PiDu75, đồng thời theo dõi sự sinh trưởng của lợn con đến 60 ngày tuổi. Nghiên cứu cung cấp hệ thống dẫn liệu khoa học xác đáng, góp phần nâng cao chỉ số sinh sản và tối ưu hóa hiệu quả kinh tế chăn nuôi trên địa bàn tỉnh.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết di truyền số lượng của Falconer (1964, 1993) và mô hình phân tích kiểu hình kinh điển: $P = A + D + I + Eg + Es$. Trong đó, giá trị kiểu hình ($P$) cấu thành từ giá trị cộng gộp ($A$ - giá trị giống), sai lệch trội ($D$), sai lệch át gen ($I$), cùng các sai lệch môi trường chung ($Eg$) và môi trường riêng ($Es$). Đối với các tính trạng sinh sản ở lợn, hệ số di truyền ($h^2$) thường ở mức thấp, dao động từ 0,08 đối với khoảng cách lứa đẻ, 0,12 đối với số con cai sữa/ổ, 0,13 đối với số con sơ sinh/ổ, đến 0,21 đối với khối lượng sơ sinh/con và 0,27 đối với tuổi đẻ lứa đầu.

Bên cạnh đó, khung lý thuyết ưu thế lai (Heterosis) của Dickerson (1974) và giả thuyết tương tác gen được ứng dụng nhằm giải thích sự vượt trội của con lai F1 và con lai thương phẩm 3 - 4 giống. Khi lai giữa các dòng/giống khác nhau, hiệu ứng cộng gộp gen trội và tương tác siêu trội ở trạng thái dị hợp tử giúp cải thiện rõ rệt sức sống đàn con, tăng từ 5% đến 15% số lợn con cai sữa/nái/năm so với giống thuần. Ba khái niệm trung tâm được chuẩn hóa theo Tiêu chuẩn Quốc gia (TCVN 1980 - 1981 và TCVN 1982 - 1981) bao gồm: năng suất sinh sản nái (số con sơ sinh sống/ổ, số con cai sữa/ổ), khả năng tiết sữa - nuôi con của mẹ (khối lượng toàn ổ ở 21 ngày tuổi), và tốc độ sinh trưởng tuyệt đối của lợn con giai đoạn bú sữa và sau cai sữa đến 60 ngày tuổi.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được triển khai trực tiếp tại Trại giống lợn ngoại thuộc Trung tâm Giống cây trồng, Vật nuôi và Thủy sản tỉnh Hòa Bình trong giai đoạn 2018 - 2019. Nguồn dữ liệu sơ cấp thu thập trên cỡ mẫu gồm toàn bộ đàn nái thuần Landrace ($\female L \times \male L$), đàn nái thuần Duroc ($\female Du \times \male Du$), đàn nái bố mẹ $\female F1(YL) \times \male Du$ và $\female F1(YL) \times \male PiDu75$ theo dõi liên tục qua 5 lứa đẻ, cùng hàng trăm cá thể lợn con sinh ra từ các công thức lai đến 60 ngày tuổi. Phương pháp chọn mẫu phân tầng có chủ đích được áp dụng: các cá thể nái được gắn số tai cố định, nuôi dưỡng trong cùng điều kiện chuồng trại khép kín, áp dụng chế độ dinh dưỡng theo từng giai đoạn mang thai và nuôi con theo đúng quy chuẩn kỹ thuật.

Phương pháp phân tích dựa trên việc cân đo trực tiếp các chỉ tiêu: số con đẻ ra/ổ, số con sơ sinh sống, khối lượng sơ sinh toàn ổ, khối lượng lợn con lúc 21 ngày tuổi, khối lượng lúc cai sữa (28 ngày tuổi), khối lượng lúc 60 ngày tuổi và lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày. Số liệu được phân tích bằng phương pháp thống kê sinh vật học trên phần mềm chuyên dụng, sử dụng kiểm định ANOVA một nhân tố và phân tích hồi quy, xác định hệ số tương quan kiểu hình Pearson ($r$) giữa các tính trạng. Việc lựa chọn phương pháp phân tích này cho phép bóc tách ảnh hưởng của lứa đẻ, công thức phối giống và loại trừ tối đa các sai số ngoại cảnh bất thường, đảm bảo độ tin cậy khoa học ở mức xác suất $P < 0,05$ và $P < 0,01$.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về năng suất sinh sản của đàn nái ông bà, giống Landrace thể hiện ưu thế vượt trội về tính năng làm mẹ so với giống Duroc. Số con sơ sinh sống/ổ của nái Landrace thuần đạt mức bình quân 9,85 - 10,42 con/ổ, cao hơn đáng kể so với nái Duroc chỉ đạt 7,92 - 8,45 con/ổ (chênh lệch khoảng 23,3%). Khối lượng sơ sinh bình quân của lợn con Landrace đạt 1,38 - 1,42 kg/con, trong khi lợn con Duroc đạt 1,48 - 1,53 kg/con. Nái Landrace duy trì số con cai sữa bình quân đạt 9,35 - 9,80 con/ổ với khối lượng cai sữa ở 28 ngày tuổi đạt 6,85 - 7,10 kg/con.

Thứ hai, ở đàn nái bố mẹ F1 (Yorkshire × Landrace), công thức lai sử dụng đực PiDu75 đem lại kết quả vượt trội hơn so với sử dụng đực Duroc. Cụ thể, tổ hợp $\female F1(YL) \times \male PiDu75$ đạt số con sơ sinh sống bình quân 10,85 con/ổ và số con cai sữa đạt 10,28 con/ổ, tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa đạt 94,75%. Trong khi đó, tổ hợp $\female F1(YL) \times \male Du$ đạt 10,40 con sơ sinh sống/ổ và 9,75 con cai sữa/ổ, tỷ lệ nuôi sống đạt 93,75%.

Thứ ba, khả năng sinh trưởng của lợn con thương phẩm giai đoạn sau cai sữa đến 60 ngày tuổi cho thấy tổ hợp có máu đực PiDu75 phát triển rất nhanh. Khối lượng lợn con lúc 60 ngày tuổi của tổ hợp $\female F1(YL) \times \male PiDu75$ đạt bình quân 19,45 kg/con, tăng khối lượng tuyệt đối đạt 345,5 g/con/ngày, tiêu tốn thức ăn chỉ ở mức 1,58 kg thức ăn/kg tăng khối lượng. Tổ hợp $\female F1(YL) \times \male Du$ đạt khối lượng 60 ngày tuổi là 18,62 kg/con với mức tăng trọng 328,2 g/con/ngày và tiêu tốn thức ăn là 1,64 kg thức ăn/kg tăng khối lượng.

Thứ tư, phân tích tương quan kiểu hình chỉ ra mối liên hệ thuận rất chặt chẽ giữa khối lượng sơ sinh và khối lượng cai sữa ($r = 0,74 - 0,82$), cũng như giữa số con sơ sinh sống với số con cai sữa/ổ ($r = 0,86 - 0,94$).

Thảo luận kết quả

Sự khác biệt về năng suất sinh sản giữa các giống phản ánh đúng bản chất di truyền của từng dòng chuyên dụng: Landrace thuộc nhóm dòng mẹ với ngoại hình dài đòn, nhiều vú, sữa tốt và khéo nuôi con, trong khi Duroc là dòng chuyên bố hướng nạc cao nên khả năng tiết sữa và số con sinh ra thấp hơn. Hiệu quả vượt trội của tổ hợp lai 3 - 4 giống $\female F1(YL) \times \male PiDu75$ bắt nguồn từ việc tận dụng triệt để 100% ưu thế lai từ nái mẹ F1 (sức tiết sữa dồi dào, khả năng đề kháng cao) kết hợp với 50% ưu thế lai từ đực PiDu75 (sức sinh trưởng nhanh, tỷ lệ nạc cao từ máu Pietrain và tính thích nghi từ Duroc).

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan thông qua các bảng so sánh biến thiên qua 5 lứa đẻ và đồ thị sinh trưởng hình chữ S đặc trưng. Năng suất nái đạt đỉnh cao nhất ở lứa đẻ thứ 3 đến thứ 5, sau đó có xu hướng đi ngang hoặc giảm nhẹ ở các lứa sau. Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các nghiên cứu của Đinh Văn Chỉnh (1995) tại Hà Tây và Phùng Thị Vân (1998), đồng thời khẳng định đàn giống ngoại nhập hạt nhân từ Tam Điệp thích nghi hoàn hảo với điều kiện khí hậu, sinh thái tại tỉnh Hòa Bình.

Đề xuất và khuyến nghị

  1. Chuẩn hóa kỹ thuật phối giống kép cho đàn nái sinh sản: Đội ngũ kỹ thuật của Trung tâm Giống và các trang trại cần áp dụng nghiêm ngặt kỹ thuật phối giống 2 lần (lần đầu lúc 24 giờ và lần hai lúc 36 giờ tính từ thời điểm nái bắt đầu chịu đực) nhằm nâng tỷ lệ thụ thai lên trên 92% và số con sơ sinh sống đạt trên 11 con/ổ, hoàn thành chuẩn hóa quy trình trong vòng 3 tháng tới.
  2. Mở rộng thương phẩm hóa công thức lai $\female F1(YL) \times \male PiDu75$: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Trung tâm Giống tỉnh Hòa Bình cần ưu tiên chuyển giao đàn đực giống PiDu75 và nái nền F1(YL) vào hệ thống trang trại vệ tinh và nông hộ, hướng tới mục tiêu tăng tỷ lệ đàn lợn thương phẩm siêu nạc đạt trên 60% toàn tỉnh vào năm 2025.
  3. Thực hiện quy trình tập ăn sớm và cai sữa chủ động: Các chủ trang trại chăn nuôi cần tiến hành tập ăn sớm cho lợn con bằng thức ăn tập ăn chuyên dụng từ ngày tuổi thứ 7 đến ngày thứ 10, rút ngắn thời gian cai sữa xuống mốc 21 - 25 ngày nhằm đưa khối lượng cai sữa đạt trên 7,0 kg/con và giảm thiểu tối đa hao mòn thể trạng nái mẹ trong quý tiếp theo.
  4. Tối ưu hóa khẩu phần dinh dưỡng theo lứa đẻ: Bộ phận quản lý dinh dưỡng cần thiết lập khẩu phần ăn cân đối axit amin (đặc biệt là lysine đạt 0,9 - 1,1%) cho nái chửa và nái nuôi con, đảm bảo nái động dục lại trong vòng 4 - 6 ngày sau cai sữa, qua đó rút ngắn khoảng cách giữa 2 lứa đẻ xuống dưới 155 ngày.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  1. Chủ trang trại và giám đốc kỹ thuật trại lợn giống: Cung cấp thông số thực nghiệm chuẩn xác về năng suất các dòng Landrace, Duroc, F1(YL) để xây dựng biểu đồ khai thác nái và kế hoạch ghép phối tối ưu.
  2. Cán bộ khuyến nông và chuyên viên Sở Nông nghiệp & PTNT: Làm căn cứ khoa học vững chắc để hoạch định chính sách cơ cấu giống, xây dựng các đề án phát triển chăn nuôi lợn an toàn sinh học cấp tỉnh và huyện.
  3. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành Chăn nuôi - Thú y: Tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp bố trí thí nghiệm thực địa, xử lý số liệu di truyền số lượng và phân tích tương quan kiểu hình trên đàn gia súc lớn.
  4. Doanh nghiệp sản xuất thức ăn và kinh doanh con giống: Nắm bắt chính xác nhu cầu tiêu tốn thức ăn FCR và tốc độ tăng khối lượng của các tổ hợp lai thương phẩm để phát triển dòng sản phẩm dinh dưỡng chuyên biệt cho từng giai đoạn sinh trưởng.

Câu hỏi thường gặp

1. Vì sao nên sử dụng nái lai F1 (Yorkshire × Landrace) làm nền nái bố mẹ thay vì nái thuần?
Nái F1(YL) tích hợp hoàn hảo ưu thế lai từ hai giống mẹ hàng đầu thế giới, giúp tăng 10 - 15% số con cai sữa/nái/năm, tăng khả năng tiết sữa và bản năng bảo vệ con, đạt trên 10 con cai sữa/ổ, vượt trội hơn hẳn so với nái thuần nuôi tại địa phương.

2. Đực lai PiDu75 mang lại lợi thế gì so với đực thuần Duroc trong công thức phối giống?
Đực PiDu75 kết hợp 75% máu Duroc và 25% máu Pietrain, mang lại ưu thế lai kép: vừa duy trì sức sống khỏe, độ dẻo dai của Duroc, vừa bổ sung tỷ lệ nạc cao và cơ thăn dày của Pietrain, giúp lợn con 60 ngày tuổi đạt 19,45 kg/con, cao hơn lợn con từ đực Duroc khoảng 0,83 kg/con.

3. Yếu tố nào quyết định nhiều nhất đến khối lượng cai sữa của lợn con?
Khối lượng sơ sinh ($r = 0,74 - 0,82$) và sản lượng sữa của nái ở 21 ngày đầu là hai yếu tố then chốt. Lợn con sơ sinh đạt trên 1,4 kg kết hợp tập ăn sớm từ 7 - 10 ngày tuổi sẽ đảm bảo khối lượng cai sữa lúc 28 ngày đạt từ 6,85 đến 7,10 kg.

4. Tại sao hệ số di truyền của các tính trạng sinh sản ở lợn lại rất thấp?
Các tính trạng như số con sơ sinh ($h^2 = 0,13$) hay khoảng cách lứa đẻ ($h^2 = 0,08$) chịu tác động trên 80% từ điều kiện ngoại cảnh gồm dinh dưỡng, quản lý chuồng trại và thú y, do đó biện pháp cải thiện nhanh nhất là nâng cao kỹ thuật chăm sóc và tận dụng ưu thế lai.

5. Thời điểm phối giống nào cho tỷ lệ thụ thai cao nhất ở lợn nái ngoại?
Thời điểm tối ưu là từ 24 đến 30 giờ sau khi nái bắt đầu có biểu hiện chịu đực đứng im. Thực hiện phối kép 2 lần cách nhau 10 - 12 giờ giúp tỷ lệ thụ thai đạt 95 - 100% và số con sinh ra đạt mức tối đa.

Kết luận

  • Luận văn đã xác lập hệ thống dữ liệu thực nghiệm toàn diện về năng suất đàn nái Landrace, Duroc và F1(YL) nhập nội nuôi dưỡng tại tỉnh Hòa Bình qua 5 lứa đẻ liên tiếp.
  • Khẳng định tổ hợp lai $\female F1(YL) \times \male PiDu75$ cho hiệu quả vượt bậc về số con cai sữa (10,28 con/ổ) và khối lượng 60 ngày tuổi (19,45 kg/con) với hệ số tiêu tốn thức ăn tối ưu (1,58 kg TA/kg tăng trọng).
  • Chứng minh tính quy luật sinh trưởng và xác định mối tương quan thuận chặt chẽ giữa khối lượng sơ sinh với năng suất cai sữa và phát triển giai đoạn sau.
  • Cung cấp gói giải pháp kỹ thuật đồng bộ về phối kép, tập ăn sớm từ ngày thứ 7 - 10 và rút ngắn chu kỳ cai sữa xuống 21 - 25 ngày.
  • Đóng góp luận cứ khoa học thực tiễn giúp ngành chăn nuôi địa phương tái đàn bền vững và nâng cao tỷ lệ nạc thương phẩm.

Bước tiếp theo, các cơ sở nghiên cứu cần tiếp tục đánh giá phẩm chất thịt xẻ và hiệu quả kinh tế giai đoạn nuôi thịt đến 100 - 110 kg xuất bán trong chuỗi giá trị khép kín. Các đơn vị sản xuất và hộ chăn nuôi trên địa bàn tỉnh Hòa Bình nên nhanh chóng áp dụng công thức phối giống $\female F1(YL) \times \male PiDu75$ cùng quy trình kỹ thuật nuôi dưỡng chuẩn hóa để tối ưu hóa lợi nhuận.