Chương 1: Tổng quan tài liệu các nghiên cứu liên quan đến sự sẵn lòng tham gia của người dân vào quỹ rác thải nhựa Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu dự kiến Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Dé xuất giải pháp NOI DUNG CHUONG 1: TONG QUAN TAI LIEU CAC NGHIEN CUU LIEN QUAN DEN SU SAN LONG THAM GIA CUA NGUOI DAN VAO QUY RAC THAI NHUA 1.1 Các nghiên cứu về 6 nhiễm rac thải nhựa Những năm qua, đã có nhiều học giả nghiên cứu về van dé ô nhiễm rác thải nhựa. Đầu tiên, nhiều nghiên cứu đã đánh giá tác hại của ô nhiễm rác thải nhựa đến môi trường và sức khỏe của con người, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hau hết các sản pham từ nhựa sẽ dẫn đến sự phát thải vi nhựa vào môi trường về cả số lượng lẫn đa dạng về chủng loại từ đó gây ô nhiễm nghiêm trọng và tác động trực tiếp đến sức khỏe của người dân (Alhazmi et al., 2021; Hopewell et al., 2009; Kedzierski et al., 2020; Lê Chi Công, 2020; Lê Thị Phương Dung et al., 2020; Okunola A et al., 2019; Thompson et al. Theo Lê Chí Công (2020), rác thải nhựa, khi lẫn vào đất ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng của các loài thực vật, cản trở sự phát triển của cỏ va dẫn đến hiện tượng xói mòn đất đồng thời rác thải nhựa còn làm thay đổi tính chất vật lý của đất, ngăn cản oxy đi qua đất, khiến cho đất không giữ được nước, dinh dưỡng. Hơn thế nữa, việc xả rác thải nhựa sẽ làm tắc nghẽn đường ống dẫn nước kết quả là xác suất ngập lụt ở các đô thị vào mùa mưa trở nên cao hơn (Lê Chí Công, 2020).
Theo nghiên cứu “Why is there plastic packaging in the natural environment? Understanding the roots of our individual plastic waste management behaviours” cua Kedzierski (2020) va “Public and Environmental Health Effects of Plastic Wastes Disposal: A Review” của Okunola (2019), rác thải nhựa là nguồn gốc của sự 6 nhiễm va việc xử lý rác thải nhựa không đúng cách (đặc biệt là đốt rác thải nhựa) sẽ gây ra ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng tiêu cực đến hệ sinh thái tự nhiên và sức khỏe con người. Theo Verma (2016) và Trần Thị Kiều Ngân (2012), các khí thải độc hại do việc xử lý rác thải nhựa có thể gây ảnh hưởng đến tuyến nội tiết, làm giảm khả năng miễn dich, gây rối loạn chức năng day còn chưa nói tới nó có thé gây ung thư và các di tat bam sinh cho trẻ sơ sinh (Trần Thị Kiều Ngân, 2012; Verma et al. Bên cạnh đó, Nguyễn Thị Kim Nhung (2014) với bài nghiên cứu: “Ảnh hưởng của các bên liên quan đến mức độ tham gia của người dân trong hoạt động quản lý rác thải ở Hà Nội”. Bài nghiên cứu đã cho thấy việc quản lý rác thải muốn hiệu quả và bền vững cần có sự tham gia và phối kết hợp của các bên liên quan đến hoạt động này (bao gồm: công nhân vệ sinh môi trường, nhóm tự quan cơ sở trưởng thôn/tô trưởng tổ dân phố, đoàn thể xã hội, nhóm thu mua phế liệu phi chính thức và chính quyền cấp quận/huyện, phường/xã) và người sử dụng dịch vụ đồng thời là chủ thể thải rác — người dân (Nguyễn Thị Kim Nhung, 2014).2 Các nghiên cứu sử dụng CVM đánh giá sự sẵn lòng tham gia của người dân vào xử lý rác thải Phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM) là phương pháp được sử dụng phổ biến nhất dé xác định mức sẵn lòng chi trả (WTP) của các hộ gia đình (Akhtar et al.
CVM giới hạn kép ngày càng được sử dụng nhiều hơn do tính hiệu quả của nó, ngoài CVM lựa chọn giới hạn đơn pho bién (Abas et al., 2021; Akhtar et al. Cho đến nay, hầu hết các nghiên cứu đã sử dung mô hình hồi quy logistic dé xác định các yêu tô ảnh hưởng đến WTP (Abas et al., 2021; Aggrey Niringiye, 2010; Akhtar et al., 2017; Maskey & Singh, 2017; Quy et al., 2022; Sidique et al.Tuy nhiên, trong bài nghiên cứu “Households willingness to pay for improved solid waste management” của Akhtar và cộng sự (2017) đã sử dụng mô hình probit đề thiết lập các yêu tố quyết định WTP của hộ gia đình nhằm cải thiện quan lý chất thai rắn (Aggrey Niringiye, 2010), trong khi tac giả Sidique (2010) với bài nghiên cứu “The effects of behavior and attitudes on drop-off recycling activities” đã sử dụng một mô hình thăm quan được phat trién bằng phương pháp hồi quy Poisson dé phân tích các biến số anh hưởng đến việc thăm viếng các địa điểm tái chế bỏ đi (Sidique et al. CVM trong các nghiên cứu trên thường được sử dụng dé xác định các yếu tố ảnh hưởng đến số tiền tôi đa mà các hộ gia đình san sàng chi trả đê giải quyét các vân dé môi trường.3 Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến sự sẵn lòng tham gia của người dân Trong bai “Households’ willingness to pay for improved waste collection service in Gorkha municipality of Nepal”, Maskey & Singh đã cho thấy: Thu nhập (A. Nguyen, Tran, Nguyen, & Quy, 2022) là yếu tô chính quyết định mức sẵn sàng chi tra cho dịch vụ quản lý chất thải.
Theo Ferrara & Missios (2005), trong khi nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các hộ gia đình có thu nhập cao hơn có mức sẵn sàng chỉ trả cao hơn, thì một số nghiên cứu lại cho thấy điều ngược lại khi nói đến hành vi tái chế (Dilixiati et al. Thêm vào đó, Gutberlet (2017) cho rang phan loai rác vì lý do kinh tế hoặc dé kiếm sống không phải là hiếm ở các quốc gia dang phát triển (Gutberlet, 2017), tuy nhiên việc thiếu cơ sở hạ tầng và cơ sở xử lý chất thải ở các khu vực thu nhập thấp có thê cản trở việc tham gia phân loại rác. Nguyen, Tran, Nguyen, & Quy, 2022) của chủ hộ cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định hành vi quản lý chất thải và mức sẵn sàng chỉ trả cho các dịch vụ quản lý chất thải. Kết quả cho thấy phụ nữ có nhiều khả năng tham gia phân loại rác hơn nam giới, điều này phù hợp với phát hiện từ Zhang và cộng sự (2017).
Phụ nữ, những người thường chịu trách nhiệm về các công việc gia đình như nấu nướng, dọn đẹp và xử lý chất thải, có xu hướng hiểu biết nhiều hơn về quản lý chất thải và do đó có nhiều khả năng tái chế hoặc phân loại chat thải hơn, đồng thời chi trả nhiều tiền hơn cho các dịch vụ quản lý chất thải. Một lý do có thể là hầu hết các nghiên cứu về phân loại rác thải sinh hoạt ở các quốc gia đang phát triển đều được thực hiện ở các nước phương Đông, nơi phụ nữ theo truyền thống được coi là đảm đương các công việc gia đình, trong khi nam giới phải làm việc bên ngoài (Ngân hàng Thế giới, 2012 ). Kết quả là, phụ nữ cuối cùng dành nhiều thời gian và công sức hơn cho các trách nhiệm gia đình và trở nên hiểu biết hơn về quản lý chat thải, điều này có thé tác động đến xu hướng phân loại chất thải của họ. Tuy nhiên, khác các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng giới tính không 10 có tác động đáng kê đến hành vi quản lý chat thải.
Khi nhận thức về môi trường đối với cả hai giới phát triển, cả nam và nữ có thé tham gia bình đắng hơn vào việc phân loại rác. Mối quan hệ giữa tuéi tác (Đỗ Thị Hồng Uyên et al., 2022a) và thực hành quản lý chất thải đã được nghiên cứu rộng rãi, trong đó tuôi tác thường được coi là một yếu tố trong hành vi tái chế và sự sẵn sàng chi trả cho các dịch vụ quản lý chat thải. Nhiều người tin rằng những người trẻ tuổi có nhiều kha năng được giáo dục tốt hơn và có quan điểm ủng hộ môi trường mạnh mẽ hơn so với những người lớn tuổi. Tuy nhiên, nghiên cứu trước đây đã chỉ ra những kết qua mâu thuẫn về tác động của tuổi đối với mức sẵn sàng chi tra (WTP), với một số nghiên cứu cho thay WTP giảm theo tuổi như Banga (2011) trong bai “Household Knowledge, Attitudes and Practices in Solid Waste Segregation and Recycling: The Case of Urban Kampala” (Banga, 2011) trong khi những người khác báo cáo rằng việc tham gia phân loại và tái chế chat thai tăng theo độ tuổi (Sidique et al.
Sự khác biệt này có thé là do những người lớn tuổi, sắp hoặc đã nghỉ hưu, có nhiều thời gian rảnh rỗi hơn dé tham gia phân loại rác, so với những người trong độ tudi lao động đã có gia đình. Ngoài ra, việc thiếu giáo dục ở những người trẻ tuổi ở các nước đang phát triển có thể dẫn đến giảm sự tham gia vào việc phân loại rác thải. Tuy nhiên, với những nỗ lực hiện nay dé giáo dục hoc sinh vé lợi ích của việc phân loại rac hiệu qua, bạn có thé thế hệ có thé trở nên có xu hướng tham gia nhiều hơn theo tác giả Afroz và cộng sự (2010) (Afroz et al. Giáo dục (Aggrey Niringiye, 2010) là một biến số quan trọng khác ảnh hưởng đến hành vi tái chế.Điều này là do sự san lòng chi trả (WTP) của công chúng và tham gia vào việc phân loại rác thải thường găn liên với trách nhiệm xã hội và ý thức vê môi trường, vôn 11 được hình thành bởi trình độ học van của tat cả các nhóm.
Tuy nhiên, một số nghiên cứu như Tadesse (2009) với bai “Environmental concern and its implication to household waste separation and disposal: Evidence from Mekelle, Ethiopia” đã phát hiện ra rằng trình độ học vấn không tác động đáng ké đến việc tham gia phân loại rác ở các nước đang phát triển, vì việc tập trung vào tiền bạc và địa vị thường lắn dt tam quan trọng của việc phân loại rác ở những người có học thức (Tadesse, 2009). Phân loại rác thải thường được coi là công việc ban thiu và mất vệ sinh, chủ yếu đành cho người nghèo, điều này có thê không phù hợp với các giá trị hoặc ưu tiên của những người có trình độ học vấn cao. Khúc và cộng sự (2022) phát hiện ra rằng nhiều hộ gia đình có thé cân nhắc tái định cư do ô nhiễm môi trường (Khuc Q et al., 2022), điều này cũng bị ảnh hưởng bởi các yếu t6 kinh tế xã hội khác nhau đã dé cập trước đó. Phân loại rác thải sinh hoạt là một biện pháp hữu hiệu để cải thiện cơ chế vận hành lâu dài của công tác kiểm soát rác thải sinh hoạt.