Chương 1: Tổng quan lý thuyết về sự hài lòng của khách hàng Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu Chương 4: Một số đề xuất nâng cao sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ VTV cab tại Thanh Hóa. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG 1. Sự hài lòng của khách hàng 1. Khái niệm Khái niệm về sự hài lòng của khách hàng thì có rất nhiều chương trình nghiên cứu và có nhiều cách hiểu khác nhau.
Theo Philip Kotler (2000), sự hài lòng của khách hàng là cảm giác dễ chịu hoặc có thể là thất vọng phát sinh từ việc người mua so sánh giữa lợi ích thực tế của sản phẩm và những kỳ vọng của họ. Để đánh giá mức độ hài lòng của khách hàng về một sản phẩm, người ta đem so sánh kết quả thu được từ sản phẩm với những kỳ vọng của người đó. Có thể xác định ra một trong ba mức độ hài lòng sau: 1) Nếu lợi ích thực tế không như kỳ vọng thì khách hàng sẽ thất vọng 2) Nếu lợi ích thực tế đáp ứng với kỳ vọng đã đặt ra thì khách hàng sẽ hài lòng. 3) Nếu lợi ích thực tế cao hơn kỳ vọng của khách hàng thì sẽ tạo ra hiện tượng hài lòng cao hơn hoặc là hài lòng vượt quá mong đợi.
Sản Sản Sản phẩm Kỳ phẩm Kỳ phẩm vọng vọng 1. Ba cấp độ của sự hài lòng (Nguồn: PGS. Trương Đình Chiến (2011), Quản trị marketing) Những kỳ vọng của khách hàng thường được hình thành từ kinh nghiệm mua hàng trước đây của họ, những ý kiến bạn bè và đồng nghiệp, những thông tin và hứa hẹn của người bán và đối thủ cạnh tranh. Sản phẩm thoả mãn được kỳ vọng của khách hàng càng nhiều thì càng dễ dàng được khách hàng chấp nhận.
Như vậy, nhà sản xuất cần xác định những nhóm sản phẩm làm thoả mãn được nhiều kỳ vọng của khách hàng. Đối với những doanh nghiệp coi khách hàng là trung tâm thì sự hài lòng của khách hàng vừa là một trong những mục tiêu hàng đầu vừa là công cụ marketing cựa kỳ quan trọng. 5 Đối với những khách hàng được hài lòng vượt quá sự mong đợi thì xác suất chuyển đổi nhãn hiệu là rất thấp, tạo ra sự cam kết đối với nhãn hiệu. Chính điều đó tạo nên sự trung thành của khách hàng.
Nhiều doanh nghiệp hướng đến việc đạt đức mức độ hài lòng vượt quá mong đợi cho khách hàng vì nếu chỉ ở mức hài lòng thì rất dễ chuyển sang lựa chọn một nhãn hiệu khác làm hài lòng khách hàng hơn. Tuy nhiên, khi một doanh nghiệp lấy khách hàng làm trung tâm và cố gắng tạo ra mức độ hài lòng cao cho khách hàng, nó gặp trở ngại là khó có thể tăng tối đa mức độ hài lòng của khách hàng. Theo Oliver và Bearden (1995) thì cho rằng sự hài lòng của khách hàng là một nhiệm vụ của doanh nghiệp thể hiện qua mối quan hệ giữa những giá trị của sản phẩm, dịch vụ so với những mong đợi trước đó của khách hàng. Như vậy, định nghĩa sự hài lòng của khách hàng luôn gắn liền với những yếu tố: 1) Cảm nhận/ thái độ của khách hàng đối với nhà cung cấp dịch vụ và sản phẩm.
2) Sự kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ và sản phẩm. 3) Giá trị của những sản phẩm và dịch vụ mang lại cho khách hàng. 4) Ý định gắn bó lâu dài với sản phẩm và dịch vụ. Các nhân tố quyết định sự hài lòng của khách hàng Dựa trên những yếu tố cơ bản tác động đến quyết định mua sản phẩm và dịch vụ, có thể đưa ra một số nhân tố quyết định sự hài lòng của khách hàng: 1.
Chất lượng dịch vụ Điểm nổi bật của chất lượng dịch vụ là căn cứ để khách hàng có thể đánh giá được toàn bộ chất lượng của dịch vụ sau khi khách hàng đã mua và sử dụng. Do đó, chất lượng dịch vụ được xác định dựa trên sự chủ quan, thái độ và khả năng nhận biết. Chất lượng dịch vụ là một trong những yếu tố hàng đầu tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp cung ứng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ. Chất lượng phục vụ thể hiện qua các chỉ tiêu như mức độ phổ cập các phương tiện thông tin, mức độ thỏa mãn nhu cầu của toàn xã hội về các dịch vụ thông tin, khả năng phục vụ của mạng lưới giao dịch, thái độ, phong cách phục vụ của nhân viên giao dịch, đảm bảo bí mật thông tin khách hàng, cách thức giải quyết các vấn đề, khiếu nại, thắc mắc của khách hàng, các dịch vụ chăm sóc khách hàng… 6 Để xác định chất lượng phục vụ là một điều khó, nó phụ thuộc vào tính chất liên hoàn của các khâu trong quá trình cung cấp dịch vụ từ việc tư vấn khách hàng đến khảo sát, lắp đặt dịch vụ, phong cách phục vụ sau bán hàng Công ty càng nâng cao chất lượng phục vụ càng làm tăng giá trị cảm nhận của khách hàng đối với dịch vụ đồng nghĩa với việc họ sẽ càng hài lòng hơn khi sử dụng dịch vụ do công ty cung cấp.
Hình ảnh doanh nghiệp Theo Gronroos (1984) đã chỉ ra rằng, hình ảnh doanh nghiệp là tài sản vô giá của doanh nghiệp và cá tác động tích cực đến đánh giá của khách hàng về chất lượng dịch vụ, giá trị sản phẩm và sự hài lòng của họ. Bên cạnh đó, hình ảnh doanh nghiệp còn giúp khách hàng tin tưởng hơn vào doanh nghiệp và trở thành khách hàng trung thành của doanh nghiệp (Andressen & Lindesrand, 1998). Như vậy, hình ảnh doanh nghiệp có tác động đến chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng. Hình ảnh của doanh nghiệp được hiểu là cảm nhận chung của khách hàng về doanh nghiệp.
Nếu doanh nghiệp tạo được ấn tượng tốt cho khách hàng thì họ dễ dàng bỏ qua những thiếu sót xảy ra trong quá trình sử dụng dịch vụ. Hình ảnh doanh nghiệp tốt hay xấu đều thể hiện qua các đặc điểm sau: Luôn luôn xem quyền lợi của khách hàng là trên hết; luôn giữ chữ tín đối với khách hàng; luôn đi đầu trong các cải tiến và hoạt động xã hội nhằm đáp ứng được nhu cầu của khách hàng cũng như tạo cơ hội cho khách hàng tiếp cận với những dịch vụ và sản phẩm mới nhất và hiện đại nhất; đồng thời doanh nghiệp thường xuyên tổ chức các hoạt động marketing hiệu quả và ấn tượng nhằm thu hút sự chú ý của công chúng nói chung và khách hàng tiềm năng nói riêng. Giá cả Theo Kollmann (2000), sự thành công của ngành viễn thông trong thị trường phụ thuộc vào việc tiếp tục sử dụng của khách hàng và chính sách giá cả của nhà cung cấp, nên nhà cung cấp cần xem xét trên nhiều cấp độ. Có thể thầy giá cả đóng vai trò quan trọng trong thị trường viễn thông, nó không chỉ là giá mua mà còn là chi phí đi thuê.
Trên thị trường chung, một cấu trúc giá chiếm ưu thế dẫn đến khách hàng có nhiều lựa chọn hơn và có cơ hội để so sánh giá giữa các nhà cung cấp dịch vụ. Dịch vụ và chất lƣợng dịch vụ 1. Dịch vụ Theo Kotler (1990) Dịch vụ là hoạt động của nhà cung cấp nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Dịch vụ mang tính chất vô hình và khó đoán trước được kết quả.
Sản phẩm của dịch vụ có thể là vật chất hay tinh thần. Theo Mathe và Shapiro (1993) Dịch vụ là những hoạt động mang tính liên tục nhằm cung cấp những giá trị cho khách hàng trong một quá trình và được đánh giá thông qua mức độ hài lòng của khách hàng đối với những sản phẩm hay những chuỗi sản phẩm. Theo Valarie A Zeithaml và Mary J Bitner (2000) thì “Dịch vụ là những hành vi, quá trình và cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho khách hàng làm thoả mãn nhu cầu và mong đợi của khách hàng“ Như vậy, dịch vụ là một quá trình gồm các hoạt động hậu đài và các hoạt động phía trước nơi mà khách hàng và các nhà cung cấp dịch vụ tương tác với nhau. Mục đích của việc tương tác này là nhằm thoả mãn nhu cầu và mong muốn của khách hàng theo cách khách hàng mong đợi cũng như tạo ra giá trị cho khách hàng.
Dịch vụ bao gồm 04 thành phần: Phương tiện: Phải có trước khi dịch vụ có thể cung cấp Hàng đi kèm: Hàng được mua hay tiêu thụ hoặc là tài sản của khách hàng cần được xử lý. Dịch vụ hiện: Những lợi ích trực tiếp và là khía cạnh chủ yếu của dịch vụ Dịch vụ ẩn: Những lợi ích mang tính tâm lý do khách hàng cảm nhận. Dịch vụ là một loại sản phẩm đặc biệt có nhiều đặc tính khác với các loại hàng hoá khác như tính vô hình, tính không đồng nhất, tính không thể tách rời và tính không thể lưu trữ. Chính những đặc tính này làm cho dịch vụ trở nên khó định lượng: Tính vô hình: Tính vô hình của dịch vụ chính là tính chất không thể sờ mó, cân đong đo đếm hay nắm bắt dịch vụ, không có hình dạng cụ thể như sản phẩm hữu hình.
Khi mua sản phẩm vật chất, khách hàng có thể yêu cẩu kiểm tra chất lượng trước khi thanh toán nhưng với dịch vụ thì không thể tiến hành các bước như vậy. Thậm chí, dịch vụ không có sản phẩm dùng thử, chỉ đến khi sử dụng, khách hàng mới cảm nhận và đánh giá dịch vụ. 8 Tính không đồng nhất: Không có chất lượng đồng nhất, có nghĩa là có sự khác nhau ở các mức độ thực hiện dịch vụ. Đặc tính này là tính khác biệt của dịch vụ.
Tuỳ thuộc vào cách thức phụ vụ, nhà cung cấp dịch vụ, người phục vụ, thời gian, lĩnh vực mà dịch vụ có nhiều cấp độ từ rất kém đến hoàn hảo. Tính không thể tách rời: Thể hiện ở việc khó khăn trong công tác phân biệt giữa giai đoạn sản xuất và giai đoạn sử dụng. Một dịch vụ không thể tách thành hai giai đoạn riêng biệt mà xảy ra đồng thời với nhau. Đối với sản phẩm vật chất thường được sản xuất, lưu kho, phân phối tới người tiêu dùng và người tiêu dùng là người sử dụng sản phẩm ở giai đoạn cuối cùng.
Còn đối với dịch vụ được tạo ra và sử dụng ngay trong suốt quá trình tạo ra đó và khách hàng đồng hành một phần hoặc suốt quá trình tạo ra dịch vụ đó. Tính không thể lưu trữ: Dịch vụ không thể lưu trữ rồi đem ra sử dụng như hàng hoá khác. Dịch vụ có thề được thực hiện theo thứ tự trước hoặc sau, không thể tái sử dụng hay phục hồi.