Chương 1. Cơ sở lý luận về sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ của ngân hàng thương mại. Sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ tại MB chi nhánh Tây Hà Nội Chương 3: Giải pháp gia tăng sự hài lòng của khách hàng đối với chất lượng dịch vụ tại MB chi nhánh Tây Hà Nội. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG ĐỐI VỚI CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
Những vấn đề cơ bản về chất lƣợng dịch vụ của ngân hàng thƣơng mại 1. Dịch vụ ngân hàng 1. Khái niệm Khái niệm về dịch vụ ngân hàng hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau. Nhưng để định nghĩa về dịch vụ ngân hàng thì trước tiên chúng ta cần hiểu thế nào là dịch vụ.
Theo định nghĩa ISO - 9004 năm 1991, dịch vụ là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa người cung cấp và khách hàng, cũng như nhờ các hoạt động của người cung cấp để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Ngoài ra, còn có nhiều định nghĩa khác về dịch vụ nhưng tổng kết chung lại: Dịch vụ là các lao động của con người được kết tinh trên giá trị của kết quả hay trong giá trị các loại sản phẩm vô hình và không thể cầm nắm được. Khái niệm dịch vụ ngân hàng được hiểu chung theo nghĩa rộng là tất cả các hoạt động tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối,…của ngân hàng đối với tất cả các đối tượng khách hàng. Xét trên góc độ Maketing: Dịch vụ ngân hàng là những đặc điểm, tính năng, công dụng do ngân hàng tạo ra nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn nhận được của khách hàng.
“Dịch vụ ngân hàng là những dịch vụ thuộc lĩnh vực tài chính, do ngân hàng cung cấp cho khách hàng của mình” (Võ Kim Thanh, 2001) Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 không có định nghĩa về “dịch vụ ngân hàng” mà chỉ nhắc tới một vài loại hình dịch vụ ngân hàng như: dịch vụ ngân quỹ, bảo hiểm, dịch vụ tư vấn tài chính và các dịch vụ ngân hàng khác. Dịch vụ tài chính là bất cứ dịch vụ nào có tính chất tài chính do một nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một thành viên thực hiện. Dịch vụ tài chính bao gồm dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ liên quan đến bảo hiểm, dịch vụ ngân hàng và dịch vụ tài 13 chính khác. Như vậy, dịch vụ ngân hàng là một bộ phận cấu thành của dịch vụ tài chính (WTO, 2005).
Nói tóm lại, có thể định nghĩa về dịch vụ ngân hàng thương mại như sau: “Dịch vụ ngân hàng là toàn bộ các hoạt động mà một ngân hàng có thể tạo ra làm thoả mãn nhu cầu khách hàng, góp phần trực tiếp hoặc gián tiếp làm tăng thu nhập của ngân hàng” 1. Đặc điểm Dịch vụ ngân hàng cũng giống như các dịch vụ khác, vừa có đặc điểm chung của dịch vụ vừa có những đặc điểm riêng biệt. Dịch vụ ngân hàng có những đặc điểm cụ thể như sau: - Tính vô hình Tính vô hình của dịch vụ ngân hàng là một đặc điểm nổi bật, khiến cho việc đánh giá và so sánh trực tiếp chất lượng dịch vụ trở nên khó khăn. Khác với sản phẩm hữu hình, dịch vụ ngân hàng không thể được nhìn thấy, chạm vào, hay đo lường bằng các giác quan truyền thống.
Điều này đòi hỏi khách hàng phải dựa vào niềm tin và kỳ vọng đối với uy tín và chuyên môn của ngân hàng để đưa ra quyết định sử dụng dịch vụ. Tính vô hình đòi hỏi ngân hàng phải tạo dựng niềm tin và cung cấp các bằng chứng về dịch vụ của mình thông qua uy tín thương hiệu, trải nghiệm khách hàng và chất lượng tương tác – từ tư vấn trực tiếp đến giao diện người dùng số hóa – để khách hàng có thể cảm nhận và đánh giá dịch vụ một cách gián tiếp (Alolayyan và cộng sự, 2018). - Tính đồng thời Tính đồng thời trong dịch vụ ngân hàng ám chỉ việc sản xuất và tiêu thụ dịch vụ diễn ra cùng một lúc, không cho phép lưu trữ hay hoãn lại. Điều này đặt ra thách thức đối với ngân hàng trong việc quản lý nhu cầu và cung cấp dịch vụ một cách hiệu quả: cán bộ ngân hàng phải tương tác và giải quyết yêu cầu của khách hàng ngay tại thời điểm khách hàng đó đến giao dịch hoặc sử dụng dịch vụ trực tuyến.
Tính đồng thời đòi hỏi ngân hàng phải có sự linh hoạt cao và phản ứng nhanh chóng để đáp ứng ngay lập tức nhu cầu của khách hàng, đồng thời đảm bảo chất lượng 14 dịch vụ không bị suy giảm dù đối mặt với biến động lớn về lượng khách hàng trong các khoảng thời gian khác nhau (Alolayyan và cộng sự, 2018). - Tính không ổn định và khó xác định khối lƣợng Tính không ổn định và khó xác định của dịch vụ ngân hàng phản ánh sự biến đổi trong chất lượng dịch vụ có thể xảy ra từng ngày, từng giờ. Do phụ thuộc nhiều vào yếu tố con người và các quy trình vận hành, dịch vụ ngân hàng có thể dao động về mức độ hài lòng mà khách hàng cảm nhận, từ sự chuyên nghiệp trong tư vấn tài chính đến tốc độ xử lý các giao dịch. Mỗi tương tác giữa nhân viên ngân hàng và khách hàng là duy nhất và không thể tái tạo một cách chính xác, dẫn đến khó khăn trong việc duy trì một tiêu chuẩn dịch vụ nhất quán.
Điều này đòi hỏi ngân hàng phải liên tục theo dõi và cải tiến quy trình, đồng thời đào tạo nhân viên để họ có thể nhanh chóng thích ứng và cung cấp dịch vụ tốt nhất trong mọi tình huống (Alolayyan và cộng sự, 2018). - Tính không lƣu giữ đƣợc Tính không lưu giữ được của dịch vụ ngân hàng nghĩa là một khi dịch vụ đã được cung cấp, nó không thể được lưu trữ hay tái sử dụng cho một giao dịch khác. Không giống như sản phẩm hữu hình có thể được sản xuất trước và bán sau, dịch vụ ngân hàng tồn tại và tiêu biến ngay sau khi quá trình phục vụ kết thúc. Điều này gây ra nhu cầu cần có sự phối hợp chặt chẽ về thời gian giữa người cung cấp và người nhận dịch vụ, đồng thời yêu cầu ngân hàng phải quản lý hiệu quả công suất lao động và tài nguyên để đáp ứng nhu cầu khách hàng mà không gây lãng phí.
Tính không lưu giữ được thách thức ngân hàng phải đảm bảo sẵn sàng cung cấp dịch vụ chất lượng cao bất cứ khi nào khách hàng yêu cầu (Alolayyan và cộng sự, 2018). - Liên tục thay đổi, dễ bắt chƣớc và không có bản quyền Dịch vụ ngân hàng được đặc trưng bởi tính chất liên tục thay đổi, dễ bắt chước và không có bản quyền, điều này có nghĩa là các sản phẩm và dịch vụ tài chính thường xuyên được cải tiến để thích ứng với môi trường thị trường động và nhu cầu của khách hàng. Đồng thời, do thiếu vắng tính bảo hộ bản quyền, các sáng kiến dịch vụ ngân hàng có thể dễ dàng được các đối thủ cạnh tranh mô phỏng, dẫn 15 đến một môi trường cạnh tranh mà trong đó sự đổi mới liên tục là cần thiết để duy trì lợi thế cạnh tranh. Ngân hàng phải không ngừng đổi mới và cải thiện để tạo ra các dịch vụ độc đáo, đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng và tạo ra sự khác biệt so với đối thủ, bất chấp thách thức từ tính dễ bắt chước của dịch vụ họ cung cấp (Alolayyan và cộng sự, 2018).
Các dịch vụ ngân hàng - Dịch vụ huy động vốn Dịch vụ huy động vốn là dịch vụ cốt lõi và quan trọng nhất của NHTM. Ngân hàng huy động vốn thông qua các sản phẩm dịch vụ đa dạng, bao gồm tiền gửi không kỳ hạn, cho phép khách hàng linh hoạt rút tiền mà không ràng buộc thời gian, tiện ích cho việc thanh toán và chuyển đổi tiền tệ. Ngược lại, tiền gửi có kỳ hạn, với thỏa thuận rõ ràng về thời gian và mục đích lấy lãi, tạo ra sự cam kết giữa khách hàng và ngân hàng trong việc giữ tiền qua các khoảng thời gian cố định. Bên cạnh đó, ngân hàng còn phát hành các giấy tờ có giá như trái phiếu, kỳ phiếu và chứng chỉ tiền gửi, nhằm thu hút nguồn vốn ổn định từ thị trường để tài trợ cho các dự án lớn và dài hạn.
Mỗi công cụ huy động này có đặc điểm riêng, từ lãi suất cạnh tranh đến thời hạn đa dạng, đáp ứng nhu cầu và kỳ vọng tài chính của khách hàng cũng như nhu cầu vốn của ngân hàng (Tô Ngọc Hưng, 2022). - Dịch vụ cho vay Ngân hàng thực hiện dịch vụ cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn vay của khách hàng. Các loại dịch vụ tín dụng đươc các NHTM sử dụng bao gồm: Chiết khấu là việc ngân hàng mua lại giấy tờ có giá trước hạn thanh toán với giá thấp hơn mệnh giá. Trong khi đó, cho vay kinh doanh hỗ trợ vốn cho các hoạt động từ sản xuất đến thương mại, bất động sản và xuất nhập khẩu.
Vay tiêu dùng, từ mua sắm cá nhân cho đến vay mua xe hay xây sửa nhà, giúp đáp ứng các nhu cầu cơ bản hàng ngày của khách hàng. Cho vay tài trợ dự án cung cấp vốn cho việc đầu tư vào tài sản cố định và các dự án mở rộng sản xuất. Cho vay hợp vốn cho phép nhiều ngân hàng cùng tài trợ cho một dự án lớn, giảm rủi ro và tăng cường tiềm lực tài chính. Cuối cùng, cho thuê tài chính là hình thức khách hàng thuê và sử dụng tài sản có giá trị 16 lớn từ ngân hàng, với quyền lựa chọn mua lại sau khi hết hạn thuê.
Mỗi hình thức này đều được thiết kế để đáp ứng nhu cầu đặc thù của khách hàng và góp phần vào sự linh hoạt và phong phú của dịch vụ ngân hàng (Tô Ngọc Hưng, 2022). - Dịch vụ thẻ Ngân hàng thương mại cung cấp các loại dịch vụ thẻ đa năng, bao gồm thẻ ghi nợ nội địa, thường được biết đến là thẻ ATM, cho phép khách hàng rút tiền và thanh toán tại các điểm chấp nhận thẻ mà không cần trực tiếp đến ngân hàng. Thẻ ghi nợ quốc tế mở rộng khả năng sử dụng của khách hàng, cho phép giao dịch không chỉ trong nước mà còn trên toàn cầu.