chương I cũng đã trình bày tính cấp thiết của đề tài, xác định được mục tiêu, ý nghĩa, đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Bên cạnh đó, phương pháp nghiên cứu được trình bày ở trên cũng đã thể hiện được tính khả thi và khoa học của quá trình thực hiện nghiên cứu. CHUONG 2 CƠ SỞ LÝ THUYET VE SU’ HAI LONG CUA NHAN VIÊN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐÈ XUÁT 2.CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÈ SỰ HÀI LÒNG CỦA NHÂN VIÊN 2. Định nghĩa về sự hài lòng của nhân viên: Khái niệm về sự hài lòng lần đầu tiên được phát triển từ các nghiên cứu Hawthorne trong những năm cuối thập niêm 1920 và đầu thập niên 1930 của Elton Mayo tai nha may Hawthorne của Công ty Western Electric tai Chicago.
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng cảm xúc của người lao động có thé ảnh hưởng đến hành vi làm việc của họ. Các mối quan hệ xã hội và các yếu tố tâm lý là nguyên nhân chính dẫn đến sự hài lòng cũng như năng suất của người lao động (Robbins, 2002) Dinh nghia cia Robert Hoppock (1935) là một trong những định nghĩa sớm nhất và hiện nay vẫn được trích dẫn nhiều nhất về sự hài lòng. Theo định nghĩa này, sự hài lòng là sự kết hợp bắt kỳ của các tình huống tâm lý, sinh lý hay môi trường khiến cho người lao động thực sự muốn nói “Tôi hài lòng với công việc của mình”. Loeke (1968) lại miêu tả sự hài lòng như là một phản ứng cảm xúc thu được khi người lao động nhận được toàn bộ những điều họ cần và những điều mà họ tin rằng công ty sẽ cung cấp.Lawler (1972) đề cập đến sự hài lòng là tổng của sự hài lòng từng khía cạnh của công việc trên tắt cả các khía cạnh của công việc Sehneider và Snyder (1975 trích dẫn trong Sempane và đồng nghiệp 2002) kết luận sự hài lòng trong công việc là đánh giá cá nhân của một người về những điều kiện phổ biến trong cộng việc, do đó việc đánh giá sẽ diễn ra trên sơ sở các yếu tố mà họ cho là quan trọng đối với họ C.Reilly (1991) định nghĩa sự hài lòng là cảm giác của người lao động đối với công việc của họ hoặc thái độ chung đối với công việc và nó chịu ảnh hưởng bởi sự nhận thức về công việc của người đó.
Rue và Byars (1992) đề cập đến sự hài lòng như là một trạng thái tỉnh thần của một cá nhân về công việc của ho. Robbins et al. (2003) đã bổ sung thêm là một cá nhân với sự hài lòng cao về công việc của họ sẽ thể hiện một thái độ tích cực đối với công việc và ngược lại các cá nhân không hài lòng sẽ có thái độ tiêu cực với công việc của họ. Định nghĩa này cũng đã được mở rộng bởi Greenberg và Baron (1995) bằng cách định nghĩa sự hài lòng như là một phản ứng dựa trên kinh nghiệm, tình cảm hay đánh giá của một cá nhân về công việc của họ Schermerhom (1993) định nghĩa sự hài lòng như là một phản ứng tình cảm hay cảm xúc của người lao động đối với các khía cạnh khác nhau của công việc Cherrington (1994) khi nghiên cứu đã xác định được hai khía cạnh đẻ hiểu về sự hài lòng đó là sự hài lòng theo khía cạnh công việc và sự hài lòng chung về công việc Sự hài lòng về các khía cạnh công việc đề cập đến các xu hướng cho ring người lao động có nhiều hoặc ít hài lòng với các khía cạnh khác nhau của công việc (John, 1998).
Cherington (1994) đề ấp đến các khiá cạnh khác nhau của công việc như là thái độ cá nhân đối với lương, đối với công việc của mình (cho dù đó là một công việc đầy thử thách, kích thích hay hấp dẫn) và các nhà quản lý (cho dù học có những kỹ năng quản lý mềm dẻo cũng như có khả năng tốt trong, công việc) Sự hài lòng chung đối với công việc tập trung vào các tình trạng nội bộ chung của sự hài lòng hay không hài lòng của các cá nhân. Những yếu tổ tích cực như đồng nghiệp thân thiện, thù lao tốt, nhà quản lý có nhiều sự thông cảm. hay công việc hấp dẫn sẽ tạo ra một tình trạng nội bộ tích cực. Trong khi đó những yếu tố tiêu cực như lương thấp, công việc ít hấp dẫn và sự chỉ trích từ cấp trên sẽ tạo ra tình trạng nội bộ tiêu cực.
Do đó, cảm giác cụa sự hài lòng tổng thể hay không hài lòng là một cảm giác toàn diện phụ thuộc vào cường độ và tằn suất của các yếu tố tích cực và tiêu cực (Cherrington, 1994) Spector (1997) đề cập đến sự hài lòng ở cách người lao động cảm nhận về công việc cũng như các khía cạnh khác nhau của công việc của họ. Ellickson và Logsdon (2002) ủng hộ quan điểm này bằng các xác định sự hài lòng như là mức độ mà người lao động yêu thích công việc của mình. Spector (1997) cũng cho rằng sự hài lòng có thể được coi như là một cảm giác hài lòng chung về công việc hoặc một loạt các thái độ có liên quan đến các khía cạnh khác nhau của công việc. Phương pháp tiếp cận về sự hài lòng chung được sử dụng khi mà mục tiêu nghiên cứu là đánh giá tổng quan về việc nhân viên thích hay không thích công việc của họ.
Phần lớn các nghiên cứu về sự hài lòng của nhân viên sẽ tập trung vào sự hài lòng chung về công việc có liên quan đến nhiều biến số yêu thích/quan tâm khác nhau. Phương pháp nghiên cứu sự hài lòng theo khía cạnh của công việc sẽ giúp người nghiên cứu tìm ra được phần nào trong công việc sẽ dẫn đến sự hài long hay sy bat mãn cho nhân viên. Điều này rất hữu ích đối với những doanh nghiệp/tô chức có nhu cầu xác định những yếu tố gây ra sự bắt mãn trong công việc để từ đó có hướng cải thiện phù hợp. Đôi khi cả hai cách tiếp cận này sẽ được sử dụng chung để có được một bức tranh hoàn chỉnh của sự hải lòng của nhân viên.
'Nhìn chung có hai xu hướng định nghĩa sự hài lòng (1) xem xét sự hài lòng là một biến chung mang tính chất cảm xúc (tích cực và tiêu cực) của người lao động tới công việc có thẻ ảnh hưởng đến niềm tin, hành vi của người lao động; (2) xem xét sự hải lòng dưới nhiều khía cạnh công việc khác nhau.Trong nghiên cứu này sự hài lòng được xem xét dưới cả các khía cạnh của công việc và sự hài lòng tông thể của người lao động với công việc nói chung 2. Các học thuyết về sự hài lòng của nhân viên Mullins (1996, p.520) cho ring “động lực là một quá trình dẫn đến sự hài lòng:. Mặc dù mối quan hệ giữa động lực và sự hài lòng không rõ ràng, nhưng nó có thể được minh họa bằng các lý thuyết động lực. “Theo Calder (2000), lý thuyết động lực có thể được phân thành hai loại, cụ thể là lý thuyết theo nội dung và lý thuyết theo quy trình của động lực.
Mullins (1996) kết luận rằng các lý thuyết theo nội dung của động lực có liên quan đặc biệt đến sự hài lòng và giả định mối quan hệ trực tiếp giữa hài lòng công việc và nâng cao hiệu suất công việc, trong khi các lý thuyết theo quy trình chiêm nghiệm chỉ tiết hơn về mi quan hệ giữa động lực, sự hài lòng và hiệu suất công việc Cronje, Du Toit, Marais và Motlatta (2003) tiếp tục thừa nhận lý thuyết theo nội dung đã làm nổi bật các yếu tố định hướng hành vi trong mỗi con người, trong khi đó lý thuyết theo quy trình lại tập trung phần lớn vào lý do tại sao các cá nhân lựa chọn trong các hành vi để đáp ứng mong muốn của họ và cách họ đánh giá sự hài lòng của bản thân khi họ đạt được mục tiêu đã đề ra. Net và các đồng nghiệp (2004) cho rằng lý thuyết theo nội dung tập trung vào nhu cầu và các yếu tố thúc đây hành vi trong khi đó lý thuyết theo quy trình lại tập trung vào nguồn gốc của hành vi và các yếu tố ảnh hưởng đến cường độ và hướng của hành vi &. Lý thuyết theo nội dưng: Tập trung vào các nhân tố bên trong con người, chúng tăng cường, điều khiển, duy trì và ngăn chặn hành vi. Những lý thuyết về nội dung phổ biến bao gồm: Thuyết về tháp nhu cầu của Maslow, 10 thuyết hai nhân tố của Herzberg, lý thuyết của MeCelland; Lý thuyết mô hình ERG của Alderfer ~ Thuyết về tháp nhu cầu của Maslow: Các nghiên cứu sâu rộng đã được thực hiện trong lĩnh vực động lực và sự hài lòng và nhiều nhà tâm lý học đã cố gắng giải thích chúng trong các điều kiện nhu cầu, lợi ích và giá trị nhất định.
Một lý thuyết đã khám phá các yếu này đó là lý thuyết về tháp nhu cầu của Maslow. Theo Maslow, bản chất của mỗi cá nhân là rất năng động và không ngừng phần đấu đề đáp ứng một hệ thống các nhu cầu với một xu hướng cố hữu về sự tự thể hiện (Joubert, 2000) Tháp nhu cầu của Maslow gồm có 5 cấp bậc Theo Edwards (1993 trích dẫn trong Arnolds & Boshoff, 2001) cho ring mức độ một trong hệ thống phân cắp đề cập đên sự hài lòng cảu các nhu cầu tâm lý trong đó bao gồm các nhu cầu cơ bản như nhà ở, những lợi ích vật chất và tài chính ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất công việc của nhân viên Cấp độ thứ hai chính là sự an toàn cần thiết cho sự an toàn và bảo vệ khỏi các tác hại về t và tính cảm. Ở cấp độ này, người sử dụng lao động phải cung cấp một môi trường làm việc an toàn, trong khi trách nhiệm của các cá nhân là phải đảm bảo an toàn cho chính bản thân bên ngoài khu vực làm việc (Abdullah, 2002). Theo Smith và Tisak (1993, được trích dẫn bởi Arnolds&Boshoff, 2001), tại cấp độ này, sự an toàn và bảo vệ trong các hình thức bảo đảm việc làm và phúc lợi là những yếu tố được phát hiện sẽ nâng cao hiệu suất công việc của nhân viên Theo Abdullah (2002), cấp độ thứ ba đề cập đến nhu cầu của xã hội, dẫn đến sự cần thiết phải liên kết tập trung vào các mối quan hệ với đồng nghiệp hoặc cấp dưới.
Theo Korman (1971) và Tharenou (1979) được trích dẫn trong Arnolds và Boshoff (2001), các cá nhân với khả năng tự nhận thức bản thân cao thường là những người đạt được thành tích cao hơn trong công việc so với những người có khả năng tự nhận thức thấp và mong đợi đối với thành công, thấp.