Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm dùng trong nghiên cứu Bệnh viện: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), “BV là một bộ phận không thể tách rời của một tổ chức xã hội và y tế, chức năng của nó là đảm bảo chăm sóc sức khỏe toàn diện cho nhân dân cả phòng bệnh và chữa bệnh, dịch vụ ngoại trú của bệnh viện phải vươn tới cả gia đình và môi trường cư trú. BV còn là trung tâm giảng dạy y học và nghiên cứu sinh học xã hội” [44]. Cùng với thời gian, khái niệm về BV cũng có nhiều thay đổi.
Trước đây, BV được coi là “nhà tế bần” cứu giúp những người nghèo khổ. Nhà tế bần như những bệnh viện từ thiện nuôi dưỡng người ốm yếu và người nghèo. Ngày nay, BV có nhiều chức năng khác nữa không chỉ là nơi cung cấp dịch vụ khám, chẩn đoán và điều trị bệnh tật mà còn là nơi đào tạo và tiến hành các nghiên cứu y học, xúc tiến các hoạt động chăm sóc sức khoẻ và hỗ trợ chăm sóc sức khoẻ tại cộng đồng. Chất lượng cung cấp các dịch vụ cũng được đòi hỏi cao hơn theo xu hướng sự tiến bộ của xã hội.
Người dân ngày càng ý thức được tầm quan trọng của vấn đề chăm sóc sức khỏe, nhận rõ hơn về quyền lợi của mình và đòi hỏi được hệ thống BV cung cấp dịch vụ tốt và toàn diện hơn. Vì thế, người dân mong muốn các dịch vụ y tế không chỉ được cung cấp tại BV mà ngay ở tại gia đình nên chức năng của BV ngày càng được mở rộng. Có thể coi BV như một xã hội thu nhỏ với rất nhiều mối quan hệ khác nhau. Các mối quan hệ đó bao gồm cán bộ nhân viên với nhân viên, nhân viên với người bệnh và với người nhà người bệnh, giữa những người bệnh với nhau, trong đó, mối quan hệ giữa nhân viên y tế (NVYT) với người bệnh là quan trọng hơn cả và nó phản ánh chất lượng dịch vụ khám chữa bệnh (KCB) tại BV.
Khám bệnh: 5 Là việc hỏi bệnh, khai thác tiền sử bệnh, thăm khám thực thể, khi cần thiết thì chỉ định làm cận lâm sàng, thăm dò chức năng để chẩn đoán và chỉ định phương pháp điều trị phù hợp đã được công nhận [9]. Chữa bệnh: Là việc sử dụng phương pháp chuyên môn kỹ thuật đã được công nhận và thuốc đã được phép lưu hành để cấp cứu, điều trị, chăm sóc, phục hồi chức năng cho người bệnh [9]. Bệnh nhân điều trị ngoại trú: Được thực hiện trong trường hợp người bệnh (NB) không cần điều trị nội trú; NB sau khi đã điều trị nội trú ổn định nhưng phải theo dõi và điều trị tiếp sau khi ra khỏi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh [5]. Sự hài lòng của người bệnh: Khái niệm sự hài lòng cũng như nhiều định nghĩa về tâm lý học khác rất dễ hiểu nhưng lại khó định nghĩa vì đó là một khái niệm tổng hợp nhiều yếu tố.
Định nghĩa đơn giản và thực tế của sự hài lòng là mức độ mong muốn mà người ta nhận được [4]. Trong lĩnh vực CSSK, hài lòng của người bệnh là một khái niệm khó đo lường và phiên giải do sự hài lòng của người bệnh gồm rất nhiều cấu phần mang tính chủ quan của người đánh giá (bị ảnh hưởng bởi sự mong đợi, nhu cầu và ước muốn cá nhân). Tuy nhiên khái niệm chung được nhiều tác giả công nhận, đó là sự hài lòng của người bệnh phải được “đánh giá dựa trên sự cảm nhận của người bệnh đối với việc chăm sóc y tế”. Fitzpatric R cho rằng sự hài lòng của người bệnh xuất phát từ quan điểm tự nhiên trong đó nhấn mạnh nhiều đến cảm xúc hơn là yếu tố hữu hình.
Đánh giá các phản ứng liên quan đến cảm xúc của người bệnh là phương pháp để nhận biết sự hài lòng của họ, phản ứng liên quan đến cảm xúc chính là phản ánh của người bệnh đối với dịch vụ y tế[34]. Sự hài lòng của người bệnh là sự tích hợp giữa việc cảm nhận về CLDV mà họ thực sự được nhận và kinh nghiệm sẵn có hay kỳ vọng của họ. Những nhận được dịch vụ cao hơn kỳ vọng (từ kinh nghiệm sẵn có) sẽ hài lòng. Ngược lại, người bệnh nhận được dịch vụ thấp hơn so với kinh nghiệm của họ sẽ không hài lòng.Burke và cộng sự năm 2013 cho rằng “sự hài lòng của bệnh nhân được sử dụng phổ biến trong việc đo lường chất lượng DVYT và đây như là một cách thức để đánh giá dịch vụ thông qua đo lường nhận thức của bệnh nhân”.
Khái niệm này của Burke đã được nhiều nhà nghiên cứu khẳng định là phù hợp bởi nó không chỉ mang tính khái quát mà còn thể hiện rõ ràng chức năng của sự hài lòng bệnh nhân và đặc tính tự nhiên của khái niệm này dựa trên “nhận thức của bệnh nhân” [38]. Nội dung và tầm quan trọng về sự sự hài lòng của người bệnh Sự hài lòng của người bệnh là một chỉ số quan trọng trong đánh giá CLDV và hiệu quả hoạt động đối với mạng lưới cung cấp dịch vụ CSSK nói chung cũng như các cơ sở KCB nói riêng. Để đánh giá chất lượng và hiệu quả trong cung ứng dịch vụ y tế, nguời ta thường thực hiện đánh giá sự hài lòng của người bệnh. Rất nhiều nghiên cứu đã đưa ra các bằng chứng cho thấy sự phản hồi của người bệnh và người nhà người bệnh giúp cho hệ thống và dịch vụ y tế được cải thiện hơn.
Lợi ích chủ yếu từ việc nghiên cứu sự hài lòng của người bệnh về CLDV y tế là cho phép người bệnh được đánh giá về chính sách của cơ sở cung cấp dịch vụ và CLDV mà họ nhận được. Ngược lại biết được thông tin về sự hài lòng của người bệnh có thể giúp các cơ sở y tế xác định được những vấn đề tiềm tàng để cải thiện như là giáo dục sức khỏe và theo dõi người bệnh, những vấn đề chất lượng trong chăm sóc, quy trình KCB. Bên cạnh đó, biết được sự hài lòng của người bệnh còn để đáp ứng nhu cầu và mong muốn chính đáng của người bệnh. Theo tài liệu hướng dẫn của Bộ Y tế về công tác nâng cao chất lượng điều trị cho người bệnh tại BV đáp ứng sự hài lòng của người bệnh là một nội dung quan trọng và được đánh giá bằng các tiêu chí sau: ❖ Thời gian chờ đợi.
❖ Sự hài lòng của người bệnh với thái độ, giao tiếp, hướng dẫn của NVYT tại các khoa phòng và các bộ phận của bệnh viện. ❖ Sự hài lòng của người bệnh về chi phí KCB tại BV. ❖ Sự hài lòng khi tiếp cận với cơ sở vật chất (CSVC), trang thiết bị (TTB): đối với cơ sở hạ tầng, TTB, y dụng cụ mà người bệnh sử dụng. ❖ Sự hài lòng của người bệnh về môi trường BV.
Nhiều kết quả thu được từ các nghiên cứu về sự hài lòng của người bệnh cho 7 thấy nhu cầu của người bệnh bị ảnh hưởng trực tiếp từ tình trạng sức khỏe của họ. Khi người bệnh được tôn trọng và được tham gia vào các quyết định trong quá trình điều trị họ sẽ có mức hài lòng cao hơn so với việc chỉ tuân theo các quyết định của thầy thuốc. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nếu người bệnh hài lòng thì họ tuân thủ hơn với các liệu pháp điều trị của thầy thuốc và số lần quay trở lại cơ sở y tế đó sẽ tăng lên. Các công cụ đánh giá sự hài lòng người bệnh Từ những năm đầu của thế kỷ 21, Yellen (2002) và Kilboume (2004) đã cho công bố về một số công cụ hài lòng của người bệnh được phát triển, tiêu chuẩn hóa và kiểm chứng để đánh giá sự hài lòng của người bênh với các yếu tố chăm sóc cụ thể ở một cơ sở y tế, tuy nhiên các bộ công cụ này có ít tiềm năng về tính hợp lệ và độ tin cậy trong các cơ sở chăm sóc khác.
Do đó, việc lựa chọn một công cụ thỏa mãn người bệnh phù hợp là một thách thức quan trọng đối với các tổ chức chăm sóc sức khỏe. Công cụ khảo sát cần phải được chuẩn hóa và cần phải thu thập thông tin thống nhất tập trung là điều cốt lõi. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu về khảo sát hài lòng thường sử dụng công cụ SERVQUAL (Parasuraman và cộng sự -1988) và SERVPERF (Cronin và Taylor - 1992) để đánh giá và kiểm định mô hình ảnh hưởng của cá yếu tố chất lượng dịch vụ tới sự hài lòng của người bệnh. - Bộ công cụ SERVQUAL: Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận – Giá trị kỳ vọng.
Bộ công cụ SERVQUAL nhằm đo lường sự cảm nhận về dịch vụ thông qua năm thành phần chất lượng dịch vụ: Tin cậy; Đáp ứng; Năng lực phục vụ; Đồng cảm; Phương tiện hữu hình. - Bộ công cụ SERVPERF: Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận. Các bộ công cụ trên đều có những ưu điểm riêng. Tuy nhiên theo tác giả FA Carrilat và cộng sự (2007) cho thấy nhìn chung, SERVQUAL và SERVPERF là các yếu tố dự báo hợp lệ như nhau về chất lượng dịch vụ tổng thể.
Việc điều chỉnh công 8 cụ SERVQUAL cho bối cảnh đo lường sẽ cải thiện tính hợp lệ dự đoán của nó; tuy nhiên tính hợp lệ dự đoán của SERVPERF không được cải thiện bằng các điều chỉnh bối cảnh. Ngoài ra, các biện pháp về chất lượng dịch vụ của 2 công cụ này đạt được hiệu lực dự đoán khi được sử dụng ở văn hóa cá thể và các ngành có mức độ phân cấp trong phục vụ nhu cầu bệnh nhân, điều này là khác biệt với văn hóa Việt Nam và đặc thù của lĩnh vực chăm sóc sức khỏe [31]. - Chỉ số khảo sát hài lòng của BYT. Trong những năm gần đây, Bộ Y tế đã ban hành nhiều chính sách quan trọng để thúc đẩy quá trình cải cách ngành y theo hướng “lấy người bệnh làm bệnh viện”, phù hợp với xu hướng dịch chuyển tiến bộ của y tế thế giới.
Từ năm 2013 Bộ Y tế đã ban hành bộ tiêu chí đánh giá chất lượng bệnh viện trong đó nhóm tiêu chí đảm bảo hài lòng người bệnh là một trong năm nhóm tiêu chí phục vụ đánh giá chất lượng bệnh viện. Cục Quản lý Khám chữa bệnh, Bộ Y tế đã xây dựng và hoàn thiện mẫu phiếu khảo sát và hướng dẫn các đơn vị thực hiện trên phạm vi toàn quốc [5].