mở đầu thì luận văn có bố cục với 4 chƣơng nhƣ sau Chƣơng 1: Cơ sở lý thuyết của đề tài Chƣơng 2: Đặc điểm địa bàn và thiết kế nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chƣơng 4: Kết luận và hàm ý chính sách 6. Tổng quan về tài liệu nghiên cứu Trong hai thập kỷ qua, dù có nhiều nghiên cứu khác nhau về CLDV nhƣng đến nay nó vẫn là một trong những đề tài đƣợc các nhà nghiên cứu Luan van 4 quan tâm nhiều nhất. Các chủ đề về “chất lƣợng dịch vụ” đang ngày càng nóng bỏng bởi vì mối quan hệ mật thiết của nó đối với yếu tố chi phí sản xuất (Crosby, 1979), lợi nhuận của DN (Buzzell & Gale, 1987), sự hài lòng của khách hàng (Bolton & Drew, 1991), sự trung thành của khách hàng (Reichheld & Sasser, 1990), hay sự truyền miệng tích cực từ khách hàng. Parasuraman et al.
(1985) xác định 10 nhân tố CLDV. Hayes(1997) cho biết một số nhân tố và tiêu chí chất lƣợng có tính tổng quát với nhiều dịch vụ, nhƣng một số nhân tố và tiêu chí chỉ áp dụng cho một số dịch vụ cụ thể. Khi xem xét sự hài lòng của ngƣời dân đối với dịch vụ, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có một mối quan hệ tích cực giữa niềm tin và sự hài lòng của công chúng với dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp (Van de Walle, Bouckaert, 2003). Nghiên cứu của Kenneth (2005) đã chứng minh 5 nhân tố quan trọng ảnh hƣởng đến sự hài lòng của ngƣời dân đối với dịch vụ là kết quả thực hiện, thời gian giao dịch, trình độ nhân viên, sự công bằng và sự chu đáo.
Bên cạnh đó, chất lƣợng là một yếu tố then chốt cho việc chuyển đổi dịch vụ và là một động lực tác động đến sự hài lòng của khách hàng (Rodriguez, 2009). Theo Nguyễn Hữu Hải & Lê Văn Hòa (2010) cho biết 5 yếu tố phản ánh đƣợc chất lƣợng dịch vụ của dịch vụ bao gồm: mục tiêu, đầu vào, quá trình, đầu ra, kết quả đầu ra. Parasuraman đã đƣa ra công cụ đo lƣờng CLDV gọi là SERVQUAL với bảng tiêu chí bao gồm 22 mục để đánh giá CLDV dựa trên khoản cách giữa mong đợi của khách hàng về CLDV và cảm nhận của họ khi tiêu dùng dịch vụ. Sau đó, Cronin và Taylor (1992) đề xuất một mô hình chất lƣợng cảm nhận đƣợc gọi là SERVPERF cũng dựa trên 22 tiêu chí nhƣng chỉ đơn giản là đánh giá CLDV thông qua đo lƣờng cảm nhận của ngƣời tiêu dùng dịch vụ.
Nhiều học giả trên thế giới đã sử dụng thang đo SERVPERF để nghiên Luan van 5 cứu CLDV nhƣ: Chih-Tung Hsiao and Jie-Shin Lin (2008); P. Naidoo (2010); Azizzadeh, Karam Khalili, Iraj Soltani (2013),… Tại Việt Nam, Cao Duy Hoàng và Lê Nguyễn Hậu (2011) nghiên cứu về CLDV hành chính công và sự hài lòng của ngƣời dân - một nghiên cứu tại Đà Lạt đã sử dụng thang đo SERVPERF. Trên cơ sở nghiên cứu lý thuyết về dịch vụ và đo lƣờng CLDV, thang đo SERVPERF; tác giả xây dựng danh mục các tiêu chí cơ bản cấu thành CLDV của Mobilfone ảnh hƣởng đến sự hài lòng, sau đó họp nhóm, phỏng vấn các bên hữu quan để điều chỉnh, bổ sung các tiêu chí đo lƣờng sự hài lòng về CLDV Mobilfone. Sử dụng thang điểm Liker 5 bậc để đo lƣờng và dùng SPSS 20.0 để xử lý dữ liệu thu thập, kiểm định và đƣa ra kết quả đánh giá về mức độ hài lòng của khách hàng về CLDV sử dụng mạng Mobilfone trên địa bàn BMT.
Luan van 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. TỔNG QUAN VỀ DỊCH VỤ VÀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ 1. Khái niệm dịch vụ Hiện nay trên thế giới có khá nhiều quan điểm khác nhau về dịch vụ, tuy nhiên vẫn chƣa có định nghĩa nào là hoàn hảo cho dịch vụ mặc dù đây là một lĩnh vực kinh tế lớn nhất trong một xã hội hiện đại. Hiện tại có: − Trong kinh tế học, dịch vụ đƣợc hiểu là những thứ tƣơng tự nhƣ hàng hóa, nhƣng là phi vật chất.
− Lewis và Booms phát biểu: Dịch vụ là một sự đo lƣờng mức độ dịch vụ đƣợc đƣa đến khách hàng tƣơng xứng với mong đợi của khách hàng tốt đến đâu. − Theo lí thuyết về tiếp thị dịch vụ: Dịch vụ là bao gồm toàn bộ hoạt động trong suốt quá trình mà khách hàng và nhà cung cấp dịch vụ tiếp xúc nhau nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách hàng mong đợi trƣớc đó cũng nhƣ tạo ra đƣợc giá trị cho khách hàng.Kotler và Amstrong (1991): Dịch vụ là một hoạt động hay một lợi ích mà một bên có thể cung cấp cho bên kia, trong đó nó có tính chất vô hình và không dẫn đến sự chuyển giao nào cả (tên tác giả, năm). [4],[12] Tóm lại, có nhiều khái niệm về dịch vụ đƣợc phát biểu dƣới những góc độ khác nhau nhƣng nói chung thì: “Dịch vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người, là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán) có thể cung cấp cho bên kia (người mua) và chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất” [4],[12] Luan van 7 Thực tế ngày nay, rất khó để có sự phân biệt rạch ròi giữa dịch vụ và hàng hóa vì khi mua hàng hóa ngƣời mua cũng nhận đƣợc một lợi ích của một dịch vụ đi kèm.
Tƣơng tự nhƣ vậy, một dịch vụ thƣờng đƣợc kèm theo một hàng hóa hữu hình để làm tăng thêm giá trị của dịch vụ. Nhƣ vậy, có thể chia sản phẩm mà các doanh nghiệp cung cấp cho khách hàng thành 3 loại chính [4] sau: Dịch vụ thuần túy (chỉ có tính vô hình) Hàng hóa thuần túy (chỉ có tính hữu hình) Hỗn hợp hàng hóa – dịch vụ (kết hợp cả tính vô hình và hữu hình) Dịch vụ thuần túy Tƣ vấn tình cảm Vô hình Bƣu chính – Viễn thông Giải phẫu thẩm mỹ Du lịch Hỗn hợp hàng hóa – dịch vụ Xe máy Hữu hình Thuốc chữa bệnh Thuốc lá - Báo Hàng hóa thuần túy Hình 1. Phân loại sản phẩm Dịch vụ thuần túy có những đặc trƣng phân biệt với hàng hóa thuần túy đó là: tính vô hình, tính không tách rời giữa cung cấp và tiêu dùng dịch vụ, tính không đồng đều về chất lƣợng, tính không dự trữ đƣợc, tính không chuyển đổi sở hữu. Tính vô hình Tính vô hình của dịch vụ thể hiện ở chỗ dịch vụ không có hình dáng, kích thƣớc, màu sắc hay mùi vị nhƣ các hàng hóa.
Chính vì vậy, khách hàng không thể cảm nhận dịch vụ bằng các giác quan thông thƣờng. Luan van 8 Tính không tách rời giữa sản xuất và tiêu thụ Quá trình cung cấp dịch vụ và tiêu dùng dịch vụ xảy ra đồng thời. Do đó cần phải có sự tham gia đồng thời của nhà cung cấp và khách hàng tại các địa điểm và thời gian phù hợp cho hai bên. Đối với một số các dịch vụ, khách hàng phải có mặt trong suốt quá trình cung cấp dịch vụ.
Sự tiếp xúc này cũng làm cho đánh giá của khách hàng về dịch vụ bị ảnh hƣởng bởi các yếu tố nhƣ: quá trình cung cấp dịch vụ, thái độ của ngƣời cung cấp dịch vụ và môi trƣờng nơi xảy ra quá trình cung cấp. Tính không đồng đều về chất lƣợng Do dịch vụ không thể cung cấp hàng loạt, tập trung nhƣ sản xuất hàng hóa. Vì vậy nhà cung cấp không thể kiểm tra chất lƣợng theo một tiêu chuẩn thống nhất đƣợc. Tính không tồn trữ đƣợc Do dịch vụ chỉ tồn tại trong khoảng thời gian mà nó đƣợc cung cấp nên không thể sản xuất hàng loạt, không thể lƣu kho để bán ra thị trƣờng khi có nhu cầu.
Tính không chuyển quyền sở hữu đƣợc Khi mua dịch vụ thì khách hàng chỉ đƣợc quyền sử dụng dịch vụ, đƣợc hƣởng những lợi ích mà dịch vụ mang lại trong một thời gian nhất định. Điều này khác hẳn với trƣờng hợp khách hàng mua hàng hóa bởi vì khi mua hàng hóa khách hàng sẽ trở thành chủ sở hữu của hàng hóa mà mình đã mua. Khái niệm chất lƣợng dịch vụ a. Khái niệm CLDV Trong một thời gian dài, các nhà nghiên cứu đã cố gắng để định nghĩa và đo lƣờng về chất lƣợng dịch vụ.
Tuy nhiên, tùy theo từng lĩnh vực, quan điểm kinh tế mà chất lƣợng dịch vụ đƣợc định nghĩa và đo lƣờng theo những cách khác nhau. Ta có thể hiểu, chất lƣợng dịch vụ là những gì khách hàng Luan van 9 cảm nhận đƣợc, chất lƣợng dịch vụ đƣợc xác định dựa vào nhận thức hay cảm nhận của khách hàng giữa kỳ vọng và thực tế họ nhận đƣợc trong quá trình sử dụng một dịch vụ. Dƣới đây, xin đƣa ra một số định nghĩa tiêu biểu: Theo Herburt (1995) thì trƣớc khi sử dụng dịch vụ, khách hàng đã hình thành một kịch bản về dịch vụ đó. Khi kịch bản của khách hàng và nhà cung cấp không giống nhau, khách hàng sẽ không hài lòng, kéo theo chất lƣợng dịch vụ của nhà cung cấp sẽ xấu đi.
Theo Crolin và Tailor (1992) thì sự hài lòng của khách hàng nên đánh giá trong thời gian ngắn còn chất lƣợng dịch vụ nên đánh giá trên thái độ của khách hàng về dịch vụ đó trong thời gian dài. Theo Parasuraman (1988), chất lƣợng dịch vụ là mức độ khác nhau giữa sự mong đợi của ngƣời tiêu dùng về dịch vụ và nhận thức của họ về kết quả dịch vụ. Từ định nghĩa này, tác giả đã khởi xƣớng để nghiên cứu định tính và định lƣợng để xây dựng và kiểm định thang đo về các thành phần cấu tạo nên chất lƣợng dịch vụ (gọi là thang đo SERVQUAL). Thang đo SERVQUAL gồm 22 biến để kiểm định 5 thành phần của chất lƣợng dịch vụ (sự cảm thông, độ tin cậy, khả năng đáp ứng, sự chia sẻ và các yếu tố hữu hình) đã đƣợc ứng dụng rộng rãi trong các nghiên cứu thị trƣờng liên quan đến việc kiểm định chất lƣợng dịch vụ và đánh giá sự hài lòng khách hàng ở tất cả các ngành dịch vụ khác nhau.
Tóm lại, chất lượng dịch vụ là nhân tố tác động nhiều đến sự hài lòng của khách hàng. Nếu nhà cung cấp dịch vụ đem đến cho khách hàng những sản phẩm có chất lượng thỏa mãn nhu cầu của họ thì các doanh nghiệp đó đã Luan van 10 bước đầu làm cho khách hàng hài lòng. Do đó, muốn nâng cao sự hài lòng của khách hàng, nhà cung cấp dịch vụ phải nâng cao chất lượng dịch vụ.