Đặt vấn đề Việc nghiên cứu tận dụng nguồn thực liệu sẵn có tại địa phương góp phần giảm chi phí thức ăn chăn nuôi, khai thác nguồn thức ăn mới không cạnh tranh với con người là một trong những chiến lược góp phần tạo nên sự bền vững trong chăn nuôi mà trong đó cây thức ăn là một trong những đại diện tiềm năng. Theo quyết định số 124/QĐ-TTg ngày 02 tháng 02 năm 2012 của Thủ Tướng chính phủ về “Phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển sản xuất ngành nông nghiệp đến năm 2020 và tầm nhìn đến 2030” trong đó quy hoạch sử dụng diện tích đất cho cây thức ăn chăn nuôi là 300 ngàn ha, từ đó cho thấy cây thức ăn chăn nuôi chiếm vai trò quan trọng trong sự phát triển toàn ngành. Tiềm năng của cây thức ăn gia súc gia cầm trong việc tạo ra một nguồn đạm rẻ và phong phú nhất do lá cây là nơi tổng hợp các acid amin từ các nguyên liệu ban đầu sẵn có trong tự nhiên như nước, CO2, nitơ trong không khí. Cây Trichanthera gigantea (T.
gigantea) là một trong những cây thức ăn gia súc được nhập vào Việt Nam năm 1990 từ Colombia với năng suất chất xanh 53 tấn/ha/năm (CIPAV, 1996), hàm lượng CP 15-22% (Rosales, 1997), gần tương đương hàm lượng CP trong khẩu phần nuôi gia cầm. Một số nghiên cứu cho thấy đã được trồng và phát triển tốt ở 3 miền Bắc, Trung, Nam (Nguyen Ngoc Ha and Phan Thi Phan, 1995; Nguyen Thi Hong Nhan et al., 1996; Nguyen Xuan Ba and Le Duc Ngoan, 2003). Ở Đồng bằng sông Cửu Long cây T. gigantea được trồng rãi rác cùng với các mùa vụ cây ăn quả, lượng sinh khối từ lá cây thu về cũng đã góp phần giảm chi phí thức ăn chăn nuôi tại nông hộ, tuy nhiên năng suất lá cây phần lớn không đồng đều do điều kiện trồng tận thu chủ yếu bị tác động bởi diện tích đất trồng mà chưa xem trọng nhân tố ánh sáng.
Một số kết quả nghiên cứu sử dụng lá cây T. gigantea ở dạng bột và tươi trong khẩu phần vật nuôi như cút, vịt xiêm, gà đẻ. (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 1998) đã được thực hiện và cho thấy đã góp phần giảm chi phí thức ăn chăn nuôi mà không gây ảnh hưởng đến năng suất. Tuy nhiên, việc sử dụng thực liệu thay thế nói chung và lá cây T.
gigantea nói riêng chỉ đạt được hiệu quả tốt tác động tích cực đến năng suất chăn nuôi của loài, giống khi ở một tỷ lệ sử dụng thích hợp. Gà Lương Phượng là một trong những giống gà lông màu ngoại nhập có năng suất cao, khả năng thích nghi tốt với khí hậu và điều kiện chăn nuôi tại Việt 1 Nam. Một số nghiên cứu cho thấy gà Lương Phượng có khả năng tận dụng tốt thức ăn xanh sẵn có tại nông hộ như bèo tấm, rau muống, lá khoai lang (Nguyen Thi Thuy and Ogle, 2004). Thế nên, giống giống gà này hứa hẹn có khả năng là đại diện cho nhóm gà lông màu sử dụng hiệu quả lá cây T.
gigantea trồng tại nông hộ góp phần giảm chi phí thức ăn chăn nuôi. Từ đó đề tài “Nghiên cứu sử dụng lá cây Trichanthera gigantea trong khẩu phần gà Lương Phượng nuôi thịt” được thực hiện nhằm xác định khả năng sử dụng cây thức ăn gia súc có hàm lượng đạm cao này trong khẩu phần gà Lương Phượng nuôi theo hướng thịt.2 Mục tiêu nghiên cứu Nhằm tìm ra mức thay thế lá cây T. gigantea ở dạng bột và tươi trong khẩu phần gà Lương Phượng nuôi thịt với 2 loại khẩu phần là khẩu phần cơ sở tự phối trộn (KPCS) và thức ăn hỗn hợp thương phẩm (TAHH). (1) Xác định năng suất cây T.
gigantea chịu tác động của nhân tố nắng hoặc râm và trồng bằng hom ngọn hoặc hom thân trong điều kiện trồng tận thu trên đất nông nghiệp sẵn có tại Trà Vinh. (2) Xác định tỷ lệ dưỡng chất tích lũy của lá T. gigantea trên gà Lương Phượng nuôi thịt ở 2 giai đoạn 5-8 và 9-12 tuần tuổi. (3) Xác định mức thay thế lá T.
gigantea (ở dạng bột và tươi) trong KPCS và TAHH trong điều kiện nuôi tại trại thực nghiệm và nông hộ.3 Những đóng góp mới của luận án - Đã xác định năng suất, giá trị dinh dưỡng của lá cây T. gigantea được trồng trong điều kiện trồng tận thu đất nông nghiệp trong điều kiện trồng nắng hoặc râm và trồng bằng hom ngọn hoặc hom thân tại Trà Vinh. - Tìm ra mức thay thế lá cây T. gigantea trong khẩu phần gà Lương Phượng nuôi thịt không ảnh hưởng đến tỷ lệ dưỡng chất và nitơ tích lũy, năng suất sinh trưởng, hiệu quả kinh tế.
- Là nghiên cứu kế thừa có chọn lọc và chuyên sâu trên đối tượng gà thịt lông màu để tiếp tục trong chuỗi các nghiên cứu sử dụng cây thức ăn phục vụ chăn nuôi gia súc gia cầm ở Việt Nam. 2 Chương 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Gà Lương Phượng 1.1 Nguồn gốc Gà Lương Phượng hay gà Lương Phượng hoa xuất phát từ vùng ven sông Lương Phượng. Đây là giống gà lông màu do xí nghiệp nuôi gà thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây Trung Quốc lai tạo thành công sau hơn mười năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và mái ngoại nhập và được giám định kỹ thuật của Ủy ban khoa học Thành phố Nam Ninh trên cơ sở đánh giá tính ổn định đặc điểm di truyền các tính trạng và tính năng sản xuất. Năm 1998 giống gà Lương Phượng đã được nhập vào nước ta 1.900 con và nuôi ở trại thực nghiệm Liên Ninh nhằm đa dạng hóa các giống gà lông màu, cùng với việc chọn lọc các giống gà trong nước là việc tìm nhập các giống gà có năng suất cao, chất lượng tốt thích nghi với các vùng sinh thái khác nhau.
Sau một thời gian nuôi, giống gà này đã thể hiện rõ tính ưu việt về khả năng thích nghi, năng suất sinh trưởng, chất lượng và màu sắc của thịt trứng phù hợp thị hiếu của người tiêu dùng.2 Đặc điểm ngoại hình- năng suất Gà Lương Phượng (Hình 2.1) có lông màu vàng tuyền, vàng đốm hoa hoặc đen đốm hoa; mào, yếm và tích màu đỏ, da chân và mỏ có màu vàng. Gà trống có mào đơn, ngực nở, lưng thẳng, lông đuôi vươn cong, chân cao vừa phải và khối lượng trưởng thành khoảng 2,7 kg. Gà mái có đầu nhỏ, thân hình chắc chắn, chân thấp và khối lượng trưởng thành khoảng 2,1 kg. Gà mái bắt đầu đẻ trứng lúc 24 tuần, đến 66 tuần tuổi đạt 170 quả/mái.
Gà thịt nuôi đến 65 ngày tuổi đạt 1,5-1,6 kg, tiêu tốn thức ăn 2,4-2,6 kg thức ăn/ kg tăng trọng (Cục Chăn nuôi, 2009).1: Gà Lương Phượng 3 Theo kết quả báo cáo của Viện chăn nuôi (2002) khi nghiên cứu đặc điểm sinh học và tính năng sản xuất của giống gà Lương Phượng cho biết giống gà này có yêu cầu về thức ăn và quản lý nuôi dưỡng gần giống với giống gà địa phương như gà Tàu, gà Nòi,…. Bên cạnh đó trong quá trình chọn lọc các nhà chọn giống đã chú trọng đến yếu tố tăng sức đề kháng chống đỡ bệnh tật, vì vậy theo thời gian gà Lương Phượng đã thích nghi với điều kiện chăn nuôi và khí hậu nóng ẩm ở Việt Nam. Do vậy giống gà này đã và đang được phát triển rộng rãi trong chăn nuôi hộ gia đình tại nhiều vùng trong cả nước. Để đạt được năng suất cao cho gà Lương Phượng nuôi thịt, Viện Chăn nuôi đưa ra khuyến cáo về dinh dưỡng trong khẩu phần đáp ứng tối ưu cho gà và được trình bày ở Bảng 2.1: Nhu cầu dinh dưỡng cho gà Lương Phượng nuôi thịt Thành phần dinh dưỡng 1-4 tuần tuổi 5-8 tuần tuổi 9 tuần tuổi- hạ thịt ME (kcal/kg) 2900 2950 2900- 3000 CP (%) 19,0 18,0 16,0 ME/CP (%) 147,3 158,33 181,25 Methionine (%) 0,42 0,39 0,38 Lysine (%) 1,08 1,05 0,97 Canxi (%) 1,2 1,19 1,18 Phospho tổng số (%) 0,77 0,76 0,78 NaCl (%) 0,32 0,33 0,31 (Nguồn: Viện chăn nuôi, 2002) Năm 2003 trên cơ sở con giống ngoại Trần Cộng Xuân và ctv đã kết hợp tận dụng các gà mái lẫn trong dòng trống và gà trống lẫn trong dòng mái rồi cho tự giao và chọn lọc theo định hướng về khả năng sinh trưởng đối với dòng trống và năng suất trứng đối với dòng mái qua các thế hệ để chọn tạo ra 3 dòng gà LV1, LV2, LV3 nhằm từng bước chủ động được giống gà chăn thả có nguồn gốc từ gà Lương Phượng cho năng suất, chất lượng cao cung cấp cho sản xuất, hạn chế bỏ ra ngoại tệ để nhập khẩu.
Kết quả nghiên cứu cho thấy các dòng gà được tạo ra ổn định về ngoại hình, kích thước các chiều đo cơ thể ổn định qua các thế hệ, tỷ lệ nuôi sống đạt trên 90%.3 Đặc điểm tiêu hóa gia cầm Gia cầm có cấu tạo bộ máy tiêu hóa thích hợp với loại hình tiêu hóa thức ăn hạt, mặc dù có cấu tạo khác biệt khá rõ nét so với nhiều động vật có vú nhưng nhiệm vụ nhìn chung tương tự, đó là nơi thực hiện quá trình phân giải thức ăn từ miệng đến ruột già nhằm biến đổi những hợp chất hữu cơ phức tạp của thức ăn thành những chất đơn giản nhất để có thể hấp thu được. Các hoạt động tiêu hóa bao gồm: hoạt động cơ học, phân tiết ezyme tiêu hóa, phân giải chất hữu cơ và 4 hấp thu. Hệ thống ống tiêu hóa của gia cầm bao gồm: mỏ, thực quản, diều, dạ dày tuyến, dạ dày cơ, ruột non, ruột già và lỗ huyệt được mô tả ở Hình 2. Nguồn: Rowem et al.2: Cơ quan tiêu hóa của gia cầm 1.1 Tiêu hóa ở miệng Một đặc điểm khác biệt rõ nét của lớp chim là sự biến đổi hàm thành mỏ, hình dạng của mỏ thích nghi cho tập tính tìm bới và mổ những mẫu thức ăn (Rowem et al.
Vị giác của gia cầm không phát triển mạnh do các chồi vị giác chủ yếu tập trung ở nửa sau lưỡi cận yết hầu. Enzyme amylase có trong tuyến nước bọt của gia cầm, enzyme này còn tiếp tục hoạt động ở diều (McDonald et al. Chính vì vậy, gà con có khả năng tiêu hóa chất bột đường khá tốt so với heo con. Lúc mới nở ra gà con có thể ăn và tiêu hóa tốt do trong đường tiêu hóa đã bắt đầu có men tiêu hóa tinh bột (Dương Thanh Liêm, 2008).
Enzyme α-amylase, là một trong những enzyme trải dài suốt dọc đường tiêu hóa của gia cầm được trình bày ở Bảng 2.2, giúp thủy phân các liên kết glucose của tinh bột thành các tiểu phần nhỏ hơn là polysaccharide và oligosaccharide (phản ứng này cần có sự hiện diện của nước).