Tổng quan nghiên cứu

Quá trình xây dựng Nhà máy Thủy điện Sơn La với cao trình mực nước dâng bình thường 215 m đã tạo ra một cuộc chuyển dịch dân cư quy mô lớn chưa từng có tại vùng Tây Bắc. Toàn tỉnh Sơn La phải thực hiện di dời 12.479 hộ dân ra khỏi vùng lòng hồ trước năm 2010 nhằm bàn giao mặt bằng thi công công trình năng lượng trọng điểm quốc gia. Tại xã Mường Trai, huyện Mường La, dự án tác động trực tiếp đến đời sống của 912 hộ với 3.708 nhân khẩu phân bố tại 13 bản ven sông Đà và sông Nậm Mu. Vấn đề nghiên cứu cốt lõi đặt ra là sự suy giảm nghiêm trọng quỹ đất canh tác truyền thống khi 100% diện tích đất lúa nước phì nhiêu gồm 95 ha đất phù sa ngòi suối và 25 ha đất biến đổi do trồng lúa bị ngập chìm hoàn toàn trong lòng hồ.

Mục tiêu cụ thể của luận văn là tiến hành điều tra, phân tích toàn diện các điều kiện tự nhiên, tài nguyên đất đai, thực trạng kinh tế - xã hội và tập quán sản xuất của đồng bào địa phương; từ đó xây dựng cơ sở khoa học để bố trí sử dụng hợp lý 3.962,29 ha đất thuộc vùng không ngập theo hướng phát triển bền vững. Phạm vi không gian nghiên cứu được xác định trọn vẹn trong địa giới hành chính xã Mường Trai, huyện Mường La với tổng diện tích tự nhiên 5.507 ha trong mốc thời gian thực hiện tái định cư giai đoạn 2006 – 2007. Kết quả nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn to lớn khi thiết lập các định mức chuyển đổi sinh kế đạt trên 300 công lao động/ha/năm, bảo vệ 2.682,88 ha rừng phòng hộ và duy trì tỷ lệ che phủ thảm thực vật trên 51,61%, giúp ngăn ngừa nguy cơ tái nghèo và xói mòn môi trường vùng lòng hồ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn tiếp cận vấn đề dựa trên nền tảng lý thuyết phát triển bền vững của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới năm 1987 cùng mô hình tương tác ba hệ thống của Jacobs và Sadler năm 1990. Mô hình này khẳng định sự phát triển bền vững là điểm giao thoa, thỏa hiệp hài hòa giữa ba trụ cột: hệ thống tự nhiên sinh thái, hệ thống sản xuất kinh tế và hệ thống cấu trúc xã hội nhân văn. Bên cạnh đó, tác giả vận dụng mô hình quả trứng sinh thái của Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế năm 1996 kết hợp 9 nguyên tắc cốt lõi trong văn kiện Cứu lấy Trái đất nhằm duy trì chất lượng sống của cộng đồng trong giới hạn chịu tải của tài nguyên môi trường.

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, nghiên cứu tích hợp Khung đánh giá quản lý đất dốc bền vững do Smyth và Dumanski đề xuất năm 1993 tại Nairobi. Khung lý thuyết này kiểm định tính bền vững thông qua 5 thuộc tính cơ bản: nâng cao hiệu quả sản xuất sinh học, giảm thiểu rủi ro an toàn, bảo vệ tiềm năng tài nguyên đất nước trước nguy cơ thoái hóa, duy trì tính lâu bền kinh tế và đạt được sự chấp nhận của cộng đồng xã hội. Các khái niệm trung tâm bao gồm: sức tải sinh thái đất dốc, quản lý đất bền vững, nông lâm kết hợp thích ứng và tái định cư tự nguyện. Nghiên cứu cũng kế thừa các phân tích của Julian Dumanski năm 1997 về việc ngăn chặn nguy cơ thoái hóa 28% quỹ đất sản xuất nông nghiệp trên toàn cầu.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ hai hệ thống chính: dữ liệu thứ cấp từ Viện Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La, các báo cáo thống kê giai đoạn 2000 – 2006; cùng nguồn dữ liệu sơ cấp điều tra thực địa. Cỡ mẫu khảo sát được thực hiện trên 100% các bản chịu ảnh hưởng ngập lụt với 12 bản bị ngập trên tổng số 13 bản toàn xã, tiến hành phỏng vấn trực tiếp 150 hộ gia đình nông dân đại diện cho 912 hộ toàn xã theo phương pháp chọn mẫu phân tầng ngẫu nhiên dựa trên các tiểu vùng sinh thái và loại đất canh tác chính.

Phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia được lựa chọn vì tính ưu việt trong việc thu thập tri thức bản địa, lắng nghe nguyện vọng chuyển đổi sinh kế của cộng đồng dân tộc Thái chiếm 96% dân số. Phương pháp hệ thống thông tin địa lý và công nghệ viễn thám được ứng dụng để số hóa, phân tích không gian và chồng xếp các lớp bản đồ chuyên đề gồm bản đồ thổ nhưỡng, bản đồ độ dốc và bản đồ hiện trạng sử dụng đất trên tổng diện tích 5.117,65 ha khảo sát. Lý do lựa chọn tổ hợp phương pháp này là nhằm khắc phục triệt để các hạn chế của phương pháp quy hoạch định tính truyền thống, lượng hóa chính xác mức độ thích nghi sinh thái của cây trồng. Toàn bộ timeline nghiên cứu được triển khai tập trung từ tháng 01/2006 đến tháng 05/2007.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, dự án Thủy điện Sơn La làm biến mất hoàn toàn diện tích đất sản xuất nông nghiệp có năng suất cao nhất của địa phương. Toàn bộ 95 ha đất phù sa ngòi suối chiếm 1,86% diện tích và 25 ha đất đỏ vàng biến đổi do trồng lúa nước chiếm 0,49% diện tích đều nằm trọn vẹn dưới cao trình ngập 215 m. Điều này đồng nghĩa với việc xã Mường Trai mất đi 100% diện tích đất canh tác 2 vụ lúa nước chủ động nguồn tưới, tác động trực tiếp đến an ninh lương thực của 876 hộ dân tộc Thái vốn có tập quán canh tác ven sông suối.

Thứ hai, quỹ đất không ngập còn lại 3.962,29 ha tập trung chủ yếu ở địa hình đồi núi dốc đứng. Trong đó, đất đỏ vàng trên đá sét chiếm tỷ trọng áp đảo với 3.392,29 ha, tương đương 85,61% diện tích không ngập; đất nâu vàng trên đá macma bazơ chiếm 570 ha, tương đương 14,39%. Khảo sát địa hình cho thấy dạng địa hình núi dốc trên 25° chiếm tới 65% tổng diện tích tự nhiên toàn xã. Tầng đất mịn ở khu vực này rất mỏng, phổ biến chỉ từ 30 đến 70 cm, tiềm ẩn nguy cơ xói mòn và rửa trôi chất dinh dưỡng nghiêm trọng nếu tiếp tục canh tác nương rẫy độc canh ngô, sắn.

Thứ ba, sự phân hóa sâu sắc của chế độ khí hậu thủy văn tạo nên thách thức lớn cho việc cấp nước. Lượng mưa trung bình năm đạt 1.718 mm nhưng phân bố cực kỳ mất cân đối: mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 chiếm tới 85 – 89% tổng lượng mưa cả năm, với đỉnh điểm mưa vào tháng 7 đạt 332 mm. Ngược lại, 6 tháng mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau chỉ chiếm 11 – 15% lượng mưa, tháng 12 thấp nhất chỉ đạt 22 – 25 mm. Kết hợp với việc toàn xã thuộc vùng nghèo nước ngầm, các tháng cuối mùa khô độ ẩm đất cạn kiệt, khiến nguy cơ cháy rừng và khô hạn cây trồng lên mức báo động.

Thứ tư, tiềm năng duy trì thảm phủ sinh thái gắn liền với 2.790,34 ha đất lâm nghiệp hiện có, trong đó rừng phòng hộ chiếm tới 2.682,88 ha, tương đương 96,1% diện tích đất lâm nghiệp. Tỷ lệ che phủ rừng đạt 51,61%, là điều kiện tiên quyết để bảo vệ nguồn sinh thủy cho dòng chảy sông Đà và hồ chứa thủy điện.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực địa tại xã Mường Trai phản ánh rõ nét nguyên nhân thất bại của nhiều dự án tái định cư trước đây. Tại công trình Thủy điện Hòa Bình, do không đánh giá toàn diện tiềm năng tài nguyên đất dốc ven hồ và thiếu giải pháp thủy lợi, tỷ lệ hộ dân phải di vén tự phát lên tới 40% ở Hòa Bình và 65% ở Sơn La, gây ra tình trạng phá rừng đầu nguồn và đói nghèo kéo dài. Tương tự, tại Thủy điện Yaly và Thủy điện Na Hang, việc chỉ tập trung đền bù giải phóng mặt bằng mà chưa xây dựng mô hình sản xuất nông nghiệp đất dốc đã đẩy người dân vào thế bị động.

Dữ liệu thổ nhưỡng và khí hậu của luận văn được cấu trúc trực quan thông qua bảng phân tích tương quan giữa cao trình địa hình và diện tích ngập lụt, kết hợp biểu đồ phân bố lượng mưa 12 tháng với nhu cầu bốc thoát hơi nước của cây trồng. Kết quả đối chiếu cho thấy, việc đưa các loại cây ăn quả lâu năm có tán rộng và bộ rễ sâu như xoài, nhãn vào canh tác trên đất dốc dưới 25° là lựa chọn tối ưu. Các loại cây này vừa có khả năng chịu đựng nhiệt độ cao trung bình năm 24,5°C và các đợt gió Lào khô nóng, vừa tạo hệ số che phủ mặt đất lớn. Khi kết hợp trồng xen băng cây họ đậu như đậu tương, đậu xanh theo đường đồng mức, lượng đất xói mòn bề mặt có thể giảm từ 50 – 70 tấn/ha/năm xuống dưới ngưỡng cho phép, đồng thời tăng lượng sinh khối hữu cơ cố định đạm tự nhiên cho đất.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, tái cấu trúc không gian sản xuất nông nghiệp trên 3.962,29 ha đất đồi núi không ngập. Khuyến nghị Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Mường La cùng Ủy ban nhân dân xã Mường Trai triển khai chuyển đổi 570 ha đất nâu vàng và 1.200 ha đất đỏ vàng có độ dốc dưới 25° sang mô hình nông lâm kết hợp. Mục tiêu cụ thể là trồng mới 350 ha xoài và nhãn ghép chất lượng cao xen canh đậu tương, đậu xanh theo đường đồng mức trong giai đoạn 2007 – 2010, nâng cao năng suất sinh học và tạo việc làm ổn định trên 300 công lao động/ha/năm cho người dân.

Thứ hai, thiết lập cơ chế quản lý và bảo vệ nghiêm ngặt 2.682,88 ha rừng phòng hộ đầu nguồn xung quanh hồ thủy điện. Đề nghị Ban Quản lý Rừng phòng hộ huyện Mường La phối hợp với chính quyền địa phương thực hiện giao khoán đất rừng lâu dài gắn với chi trả dịch vụ môi trường rừng cho 912 hộ dân tại 13 bản tái định cư. Đặt mục tiêu nâng tỷ lệ che phủ rừng toàn xã từ 51,61% lên trên 58% vào năm 2010, ngăn chặn hoàn toàn tình trạng đốt nương làm rẫy trên sườn dốc trên 25°.

Thứ ba, xây dựng hệ thống công trình thủy lợi nhỏ phân tán và mạng lưới cấp nước sinh hoạt kiên cố. Đề xuất Ban Quản lý Dự án Di dân Tái định cư Thủy điện Sơn La bố trí nguồn vốn xây dựng 8 công trình cấp nước tự chảy từ các mó nước và hợp thủy trên núi cao, kết hợp đào đắp các hồ trữ nước dung tích nhỏ tại các bản tái định cư. Mục tiêu đến cuối năm 2008 đảm bảo cấp nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn 60 lít/người/ngày cho 3.708 nhân khẩu và cung cấp nước tưới bổ sung trong 6 tháng mùa khô cho vùng cây ăn quả tập trung.

Thứ tư, đẩy mạnh công tác khuyến nông và chuyển giao kỹ thuật canh tác đất dốc bền vững cho đồng bào dân tộc bản địa. Trung tâm Khuyến nông tỉnh Sơn La cần chủ trì tổ chức tối thiểu 20 lớp tập huấn thực hành kỹ thuật làm đất theo đường bình độ, ủ phân vi sinh từ tàn dư thực vật và kỹ thuật tỉa cành tạo tán cây ăn trái cho 876 hộ dân tộc Thái. Tiến hành giải ngân kịp thời các gói hỗ trợ cây giống, phân bón ban đầu theo quy định tại Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trong suốt lộ trình di dân 2007 – 2009.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các cán bộ lãnh đạo, chuyên viên tại Ban Quản lý Dự án Di dân Tái định cư Thủy điện Sơn La, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu. Luận văn cung cấp phương pháp luận và các chỉ tiêu khoa học để lập quy hoạch chi tiết giao đất sản xuất cho 12.479 hộ dân di dời toàn dự án.

Nhóm thứ hai là các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học thuộc các chuyên ngành Quản lý đất đai, Khoa học môi trường, Quản lý tài nguyên và Sinh thái học. Tài liệu này đóng vai trò như một nghiên cứu điển hình về việc ứng dụng công nghệ viễn thám, GIS kết hợp phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia trong việc lượng hóa sức tải tài nguyên vùng núi dốc.

Nhóm thứ ba là chính quyền cơ sở, cán bộ địa chính và khuyến nông huyện Mường La, xã Mường Trai. Luận văn cung cấp cẩm nang thực tiễn về cơ cấu cây trồng nông lâm kết hợp, giúp địa phương giải quyết dứt điểm bài toán chuyển đổi nghề nghiệp khi mất 120 ha đất lúa nước màu mỡ.

Nhóm thứ tư là các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực phát triển bền vững, an ninh lương thực và giảm nhẹ tác động môi trường của các công trình hạ tầng quy mô lớn. Các số liệu và giải pháp trong đề tài là nguồn dữ liệu tham khảo giá trị cho các mô hình sinh kế thích ứng biến đổi khí hậu vùng cao.

Câu hỏi thường gặp

Việc quy hoạch sử dụng đất tại khu tái định cư Mường Trai vì sao bắt buộc phải chuyển đổi mô hình canh tác truyền thống? Bởi vì lòng hồ thủy điện làm ngập toàn bộ 120 ha đất lúa nước màu mỡ gồm 95 ha đất phù sa và 25 ha đất lúa bậc thang. Địa phương chỉ còn 3.962,29 ha đất không ngập nhưng 65% diện tích có độ dốc trên 25°, tầng đất mỏng 30 – 70 cm. Nếu tiếp tục canh tác nương rẫy, đất sẽ bị thoái hóa và rửa trôi nhanh chóng.

Mức độ mất mát tài nguyên đất do ngập hồ Thủy điện Sơn La tại xã Mường Trai cụ thể là bao nhiêu? Toàn xã có 1.155,36 ha đất bị ngập hoàn toàn dưới cao trình 215 m trên tổng số 5.117,65 ha diện tích khảo sát. Trong đó, mất 100% diện tích đất phù sa ven sông suối 95 ha, mất 100% đất lúa nước 25 ha, ngập 150 ha đất nâu vàng, ngập 885,36 ha đất đỏ vàng và ngập 75,64 ha đất khu dân cư.

Mô hình cây trồng nào được chứng minh mang lại hiệu quả kinh tế và môi trường tối ưu nhất trên đất đỏ vàng Fs? Mô hình nông lâm kết hợp giữa cây ăn quả chịu hạn lâu năm gồm xoài, nhãn với cây họ đậu ngắn ngày như đậu tương, đậu xanh theo đường đồng mức. Cây ăn quả tạo tán che phủ bền vững, trong khi cây họ đậu cố định đạm, chống xói mòn và giải quyết nhu cầu thu nhập ngắn hạn trên 300 công lao động/ha/năm.

Luận văn đã kế thừa những bài học kinh nghiệm sâu sắc nào từ các công trình thủy điện trước đó? Tác giả đúc kết bài học từ Thủy điện Hòa Bình với tỷ lệ di vén tự phát 40 – 65% do thiếu đất sản xuất và nước sinh hoạt, cùng thiếu sót trong khâu chuẩn bị sinh kế tại Thủy điện Yaly và Na Hang. Từ đó, đề tài nhấn mạnh việc gắn liền giao đất với đầu tư hạ tầng thủy lợi và chuyển giao kỹ thuật trước khi đón dân.

Công nghệ GIS và viễn thám đã hỗ trợ giải quyết vấn đề quy hoạch đất đai tại xã Mường Trai như thế nào? GIS và viễn thám cho phép số hóa và chồng xếp đồng thời bản đồ hiện trạng sử dụng đất, bản đồ thổ nhưỡng và bản đồ phân cấp độ dốc trên 5.117,65 ha đất tự nhiên. Nhờ đó, việc phân vùng thích nghi cho từng loại cây trồng đạt độ chính xác cao, loại bỏ tính chủ quan của phương pháp quy hoạch định tính cũ.

Kết luận

  • Đề tài đã đánh giá toàn diện hiện trạng tài nguyên và chỉ ra sự suy giảm 1.155,36 ha đất ngập lụt, bao gồm 100% diện tích đất lúa nước phì nhiêu tại xã Mường Trai dưới cao trình 215 m.
  • Xác lập cơ sở khoa học để tái cơ cấu 3.962,29 ha đất đồi núi không ngập, khẳng định mô hình nông lâm kết hợp cây ăn quả xoài, nhãn xen đậu đỗ là giải pháp then chốt trên đất dốc dưới 25°.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp khoanh nuôi bảo vệ 2.682,88 ha rừng phòng hộ với việc xây dựng 8 công trình cấp nước tự chảy giải quyết khô hạn mùa khô.
  • Lộ trình thực thi giải pháp được kiến nghị hoàn thiện xuyên suốt giai đoạn 2007 – 2010 theo định mức hỗ trợ của Quyết định số 02/2007/QĐ-TTg, đảm bảo ổn định đời sống cho 912 hộ dân.
  • Các nhà quản lý quy hoạch và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác toàn bộ bộ dữ liệu không gian GIS cùng khung tiêu chí phát triển bền vững của đề tài để ứng dụng hiệu quả vào các dự án tái định cư hạ tầng thủy điện trên toàn quốc.