Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 1. Khái niệm động từ Động từ là từ loại có số lượng lớn và là một trong hai từ loại cơ bản của tiếng Việt. Với số lượng lớn và đặc điểm ý nghĩa, đặc điểm hoạt động ngữ pháp phức phức tạp nhất, động từ giữ vai trò ngữ pháp quan trọng trong việc tổ chức, cấu tạo câu trong tiếng Việt. Phạm vi hoạt động của động từ khá rộng và đa dạng.
Do đó, động từ là từ loại đã thu hút sự chú ý quan tâm đặc biệt của nhiều nhà nghiên cứu. Vai trò của động từ đã được Nguyễn Kim Thản khẳng định: “Trong câu, động từ gần như là trung tâm của các mối quan hệ của các từ, nó không những có mối quan hệ tường thuật với từ chỉ chủ thể mà còn có quan hệ chính phụ với những từ chỉ đối tượng, chỉ hoàn cảnh, trạng thái. Theo “Từ điển tiếng Việt”, động từ là “từ chuyên biểu thị hành động, trạng thái hay quá trình, thường làm vị ngữ trong câu” [43, 346]. Trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” (tập 1), Diệp Quang Ban cho rằng: “ Động từ là những từ biểu thị ý nghĩa khái quát về quá trình - ý nghĩa quá trình thể hiện trực tiếp đặc trưng vận động của thực thể.
Đó là ý nghĩa hành động, ý nghĩa trạng thái được khái quát hóa trong mối liên hệ với vận động của thực thể trong thời gian và không gian” [2, 90]. Theo cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” của Trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, các tác giả của cuốn sách cho rằng: “Động từ là từ có ý nghĩa khái quát về hoạt động, trạng thái. Trong luận văn này, động từ được xác định theo các tiêu chí sau: Về mặt ý nghĩa, chỉ hoạt động (hành động hay trạng thái), có khả năng được bổ sung ý nghĩa thời thể (thời gian, mệnh lệnh, phương thức. Về mặt hình thức, động từ có khả năng thay thế bằng những từ nghi vấn “làm gì”, “làm sao”, có khả Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.vn c năng kết hợp với các phó từ chỉ thời gian, mệnh lệnh, kết quả.(đã, sẽ, đang, hãy, đừng, chớ, xong, rồi.
Trên cơ sở cách hiểu này, chúng ta có thể đưa ra cách hiểu khái quát về động từ như sau: Động từ là một từ loại thực từ dùng để chỉ hoạt động (hành động, trạng thái) của sự vật, hiện tượng. Vấn đề phân loại động từ, các tiểu loại động từ Về vấn đề phân loại động từ, đã có nhiều chuyên khảo đề cập đến. Trong luận văn này, chúng tôi xin trình bày một cách ngắn gọn, khái quát một số ý kiến chính về vấn đề phân loại động từ. Thứ nhất: Cách phân loại động từ dựa vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp (đặc điểm hoạt động ngữ pháp) Dựa vào cách phân loại này, động từ được chia làm hai nhóm: động từ - thực từ và động từ ngữ pháp (bán thực từ).
Động từ thực từ là những động từ có ý nghĩa cụ thể, chân thực - ý nghĩa hoạt động, có khả năng độc lập thay thế bằng các từ nghi vấn như: làm gì? làm sao? có khả năng độc lập làm vị ngữ trong câu (ví dụ: ăn, đọc, đánh, nói, viết, đi, chạy, ốm. Động từ ngữ pháp được hiểu là những động từ không có ý nghĩa cụ thể, chân thực. Nhóm động từ này đã bị hư hóa, trống nghĩa từ vựng, chúng mang ý nghĩa trừu tượng, khái quát. Vì vậy, các động từ này hầu như không có khả năng độc lập thay thế bằng từ nghi vấn và nói chung, không có khả năng độc lập làm vị ngữ.
Động từ ngữ pháp được chia làm hai nhóm cơ bản là động từ tình thái và động từ quan hệ. Động từ tình thái là những động từ biểu thị hoạt động khái quát về khả năng, ý chí. Dựa vào ý nghĩa, có thể chia động từ tình thái thành các nhóm chính sau: - Nhóm động từ chỉ sự cần thiết: cần, nên, phải, cần phải. - Nhóm động từ chỉ khả năng: có thể, không thể, dám.
- Nhóm động từ chỉ ý định: định, toan, muốn. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn c - Nhóm động từ chỉ ý chí: quyết, nhất quyết, cố, cố gắng. - Nhóm động từ chỉ nhu cầu tự nhiên: buồn (trong buồn ngủ), thèm. Động từ quan hệ là những động từ biểu thị quan hệ giữa chủ thể và nội dung nêu ở những từ sau nó.
Đó là quan hệ giữa các thực thể, các quá trình hay các đặc trưng. Nhóm động từ này được chia nhỏ như sau: - Động từ chỉ quan hệ đồng nhất hiểu rộng (gồm cả quan hệ chức nghiệp): là, làm. - Động từ chỉ quan hệ sở hữu: có, còn - Động từ chỉ quan hệ biến hóa theo thời gian: thành, trở thành, trở nên. - Động từ chỉ quan hệ nhân quả: làm, khiến.
- Động từ chỉ quan hệ định vị: ở Các động từ thực từ được chia tiếp thành động từ chủ động và động từ không chủ động. Động chủ động là những động từ chỉ hoạt động có chủ ý, xuất phát từ chủ thể và chủ thể có thể điều khiển hành động theo ý muốn, ví dụ: ăn, đọc, đánh, nói, viết, đi, chạy. Động từ không chủ động là những động từ chỉ hoạt động không xuất phát từ chủ thể, chủ thể không điều khiển được hoạt động theo ý muốn của mình, ví dụ: tan, cháy, đổ, vỡ. Tiếp tục phân chia động từ chủ động, ta có động từ tác động và động từ không tác động.
Động từ tác động được hiểu là những động từ biểu thị những hoạt động tác động đến đối thể mà kết quả của những hoạt động đó làm cho đối tượng bị thay đổi về phương diện nào đó (nảy sinh, tiêu biến, thay đổi về vị trí) như: xây, đắp, ăn, đập, phá. Động từ không tác động là động từ biểu thị hoạt động không tác động đến đối thể như: chạy, bơi, đi, nhảy. Tìm hiểu động từ tác động, chúng ta sẽ thấy nhóm động từ này có hai hoạt động đối lập: hoạt động tạo ra đối tượng (động từ tạo tác) như: xây, đắp, đào, vẽ, nặn. và hoạt động làm chuyển biến đối tượng về mặt nào đó (động từ chuyển tác) như: đốt, chặt, phá, đánh.
Động từ không tác động được chia thành: động từ chỉ hoạt động chuyển động như: đi, chạy, nhảy. và động từ chỉ hoạt động không chuyển động như: ngủ, nghĩ. Giữa các động từ tác động và động từ không tác động có một vài nhóm có đặc tính trung Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10 http://www. Đó là những động từ tuy cũng chỉ hoạt động hướng tới đối thể nhưng không thực sự tác động vào đối thể.
Tiêu biểu cho các nhóm đó là động từ chỉ sự chuyển động có huớng như: ra, vào, lên, xuống. Động từ tác động về cơ bản, phù hợp với động từ ngoại huớng (ngoại động), còn động từ không tác động về cơ bản, phù hợp với động từ nội huớng (nội động) theo cách phân loại truyền thống. Như vậy, căn cứ vào ý nghĩa và hình thức ngữ pháp, chúng ta thấy động từ được chia thành nhiều tiểu loại, mỗi tiểu loại lại có những dấu hiệu đặc trưng riêng về ý nghĩa và hoạt động ngữ pháp. Thứ hai: Phân loại động từ dựa vào đặc điểm chi phối Đặc điểm chi phối của động, từ theo cách hiểu chung, (áp dụng cho cả ngôn ngữ biến hình và ngôn ngữ không biến hình) là khả năng của động từ đòi hỏi sự có mặt và quy định đặc tính (ý nghĩa và hình thức) của các bổ ngữ.
Dựa vào đặc điểm chi phối, động từ được chia thành hai loại chính: động từ nội hướng (nội động) và động từ ngoại hướng (ngoại động). Động từ nội hướng là động từ không chi phối bổ ngữ (ví dụ: nằm, ngủ, thức, đánh.) còn động từ ngoại hướng là động từ có khả năng chi phối các bổ ngữ (ví dụ: ăn, đọc, vẽ, viết, đánh, đọc.) Tuy nhiên, sự phân loại động từ theo cách này vẫn còn tồn tại những vấn đề chưa dứt khoát, rõ ràng. Đó là sự có mặt của những động từ trung tính (ví dụ: có, còn, gật, lắc.) hoặc những động từ mang dấu hiệu đặc trưng cho cả động từ nội hướng lẫn động từ ngoại hướng. Thứ ba: Phân loại động từ theo kết trị Cách phân loại này dựa vào số lượng và đặc tính của các diễn tố xuất hiện bên động từ.
Với cách phân loại này, động từ được chia thành: động từ không đòi hỏi diễn tố (động từ vô trị: mưa, nắng, sáng, tối.) và động từ đòi hỏi diễn tố. Tiếp tục phân chia động từ đòi hỏi diễn tố, ta có động từ đòi hỏi một diễn tố (động từ đơn trị: thức, ngủ.), động từ đòi hỏi hai diễn tố (động từ song Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 11 http://www.vn c trị: ăn, đọc, đánh.), động từ đòi hỏi ba diễn tố (động từ tam trị: tặng, biếu, cấm, bắt. Cách phân loại động từ theo kết trị rất gần với cách phân loại động từ theo đặc điểm chi phối nhưng có tính khái quát cao hơn. Với cách phân loại động từ theo đặc điểm chi phối, thuộc tính cú pháp được chú ý chỉ là khả năng kết hợp về phía sau của động từ (kết hợp với diễn tố đối thể).
Với cách phân loại động từ theo lí thuyết kết trị, thuộc tính cú pháp được chú ý gồm cả khả năng kết hợp về phía trước (với diễn tố chủ thể) và khả năng kết hợp về phía sau của động từ (với diễn tố đối thể). Phân tích các cách phân loại động từ trên đây, chúng tôi thấy cả ba cách phân loại đều có cơ sở khoa học và có giá trị thực tiễn. Việc lựa chọn cách phân loại nào còn tùy thuộc vào quan điểm, mục đích của người học tập, giảng dạy, nghiên cứu. Trong luận văn này, chúng tôi lựa chọn cách phân loại thứ ba nhưng vẫn sử dụng kết quả của cách phân loại thứ nhất và thứ hai khi phân tích, miêu tả đặc điểm chi phối của động từ.
Vài nét về lí thuyết kết trị, khái niệm diễn tố, chu tố 1. Vài nét về lí thuyết kết trị 1. Khái niệm kết trị Thuật ngữ kết trị (hóa trị, ngữ trị, tiếng Pháp: valence, tiếng Nga: valentnost) vốn được dùng trong ngành hóa học để chỉ thuộc tính kết hợp của các nguyên tử với một số lượng xác định các nguyên tử khác. Thuật ngữ này mới chỉ được dùng rộng rãi trong ngôn ngữ học từ cuối những năm bốn mươi của thế kỉ XX để chỉ khả năng kết hợp của các lớp từ hoặc các lớp hạng đơn vị ngôn ngữ nói chung.