Chương I: Cơ sở lý luận về công cụ kinh tế trong quản lý môi trường Chương II Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trong Luật BVMT Việt Nam 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan Chương III: Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trong luật môi trường cơ sở của một sô quôc gia. SV: Hoàng Thi Như Quỳnh 5 GVHD: PGS.TS Lê Thu Hoa Chương IV: So sánh giữa các quy định của Việt Nam và các quốc gia khác Chương V: Đề xuất một số nội dung cần được bé sung sửa đổi liên quan đến công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trong luật BVMT 2005. SV: Hoàng Thi Như Quỳnh 6 GVHD: PGS.TS Lê Thu Hoa CHUONG I: CO SO LÝ LUẬN VE CONG CU KINH TE TRONG QUAN LY MOI TRUONG 1.1 Quan ly môi trường và công cu kinh tế trong quan lý môi trường 1.1 Khái niệm quan lý môi trường Quản lý môi trường là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tôt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện hành!. Đối tượng của quản lý môi trường: Là một hệ thống bao gồm các phần tử (yếu tố) tự nhiên và phần tử (yếu tố) nhân tạo có quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên.
Đó là một hệ thống bao gồm các phần tử của thế giới vô sinh và hữu sinh hoạt động theo quy luật khác nhau và có con người tham dự. Hệ thống môi trường với những đặc tính cơ bản là có cấu trúc phức tạp, có tính động, tính mở và có kha năng tổ chức, tự điều chỉnh.12 Các công cụ quan lý môi trường Công cụ quản lý về môi trường là các phương thức hay biện pháp hành động thực hiện công tác quản lý môi trường của Nhà nước, các tô chức khoa học và sản xuất. Công cụ quản lý môi trường rất đa dạng, mỗi một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau. Theo ban chất, có thé chia công cụ quản lý môi trường thành bốn loại cơ bản: Công cụ luật pháp và chính sách: Công cụ luật pháp, chính sách hay còn gọi là các công cụ pháp lý bao gồm các văn bản về luật quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật ( pháp lệnh, nghị định, quy định, các tiêu chuẩn môi trường, giấy phép ! Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế.
NXB Lao Động 2006, Tác giả: Trần Thanh Lâm SV: Hoàng Thi Như Quỳnh 7 GVHD: PGS.TS Lê Thu Hoa môi trường.), các kế hoạch, chiến lược và chính sách môi trường quốc gia, các ngành kinh tế và địa phương. Công cụ kỹ thuật quan lý: Cac công cụ kỹ thuật quản ly môi trường thực hiện vai trò kiểm soát, giám sát nhà nước về chất lượng và thành phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất ô nhiễm trong môi trường. Các công cụ kỹ thuật quản lý môi trường có thể bao gồm các đánh giá môi trường, kiểm toán môi trường, các hệ thống quan trắc, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng chất thải. Công cụ giáo dục, nâng cao nhận thức: Bảo vệ môi trường là sự nghiệp của quần chúng, chính vì vậy giáo dục, truyền thông môi trường là một công cụ cần thiết nhằm nâng cao nhận thức và ý thức môi trường của toàn xã hội.
Công cụ kinh tế hay còn gọi là công cụ dựa vào thị trường là các công cụ chính sách được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của các cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tac động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường. Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường Công cụ kinh tế là một trong số những công cụ của quản lý môi trường. Việc sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường chính là sử dụng sức mạnh của thị trường dé bảo vệ tai nguyên và môi trường, đảm bảo cân băng sinh thái. Như khái niệm đã được đề cập đến ở trên, công cụ kinh tế trong quản lý môi trường hay còn còn gọi là công cụ dựa vào thị trường là các công cụ chính sách được sử dụng nham tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của các cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường.
Công cụ kinh tế là một trong những công cụ đang ngày càng được sử dụng rộng rãi vì những ưu điểm của nó, và đặc biệt trong nên kinh tế thi trường thì vai trò, ưu điểm của công cụ kinh tế càng được phát huy. Cụ thể công cụ kinh tế được xây dựng dựa trên nền tảng các quy luật kinh tế thị trường nhằm tác động đến hành vi của người gây ô nhiễm ngay từ khi chuẩn bị cho đến khi thực thi quyết định. Những biện pháp khuyến khích kinh tế cho phép cân nhắc, so sánh, tính toán một cách kỹ càng giữa chi SV: Hoàng Thi Như Quỳnh 8 GVHD: PGS.TS Lê Thu Hoa phí va lợi ich của từng kịch ban phát triển hay phương án hành động dé qua đó lựa chọn kịch bản phát triển, phương án hành động có lợi nhất cho môi trường. Khác với những công cụ trong quản lý môi trường khác, công cụ kinh tế trong quản lý môi trường cho phép những người có liên quan có nhiều khả năng lựa chọn hơn, linh hoạt hơn trong việc ra quyết định liên quan đến môi trường.
Hiểu một cách khác, công cụ kinh tế chính là những khuyến khích về tài chính nhằm làm cho người gây 6 nhiễm tự nguyện thực hiện các hoạt động có lợi hơn cho môi trường.2 Vai trò và mục đích sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường 12.1 Mục dich sử dụng công cụ kinh té trong quản lý môi trường: Sử dụng công cụ kinh tê trong quản lý môi trường nhăm hai mục đích chính: Thứ nhât là điêu chỉnh hành vi của các nhà sản xuât và người tiêu dùng. Thứ hai là tạo ra nguôn tài chính cho việc cung câp các hàng hóa, dịch vụ môi trường.2 Vai trò của công cụ kinh tế trong quản lý môi trường Công cụ kinh tế đang ngày càng thé hiện vai trò của minh trong quản lý môi trường và được chính quyền các nước sử dụng rộng rãi, đặc biệt, trong nên kinh tế thị trường công cụ kinh tế càng phát huy chức năng của mình. Một số vai trò quan trọng của công cụ kinh tế trong quản lý môi trường như sau: Việc sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường làm tăng hiệu quả chỉ phí, qua thực tiễn của việc áp dụng các công cụ kinh tế cho quản lý môi trường, những nhà nghiên cứu đã rút ra một số kết luận răng nếu cùng một mục tiêu môi trường cần đạt được như nhau khi sử dụng công cụ kinh tế so sánh với công cụ điều hành và kiểm soát thì công cụ kinh tế có chi phí thấp hơn. Như những phân tích trên.
ta nhận thay sử dụng công cụ kinh tế là liên quan đến giá cả, vì vậy nó cung cấp tính linh hoạt trong việc ứng phó với những tín hiệu giá cả, cho phép các doanh nghiệp cũng như cá nhân tìm kiếm đến chi phí có tính hiệu quả hơn trong khả năng lựa chọn của họ. Như vậy, như phân tích trên, do chi phí thấp khi sử dung chúng cho nên công cụ kinh tê giúp tăng hiệu quả sử dụng nguôn tài nguyên và bảo vệ môi trường , hơn nữa SV: Hoàng Thi Như Quỳnh 9 GVHD: PGS.TS Lê Thu Hoa do chúng tác động đến quyên lợi kinh tế của các cá nhân hay doanh nghiệp, vi vậy buộc các cá nhân cũng như doanh nghiệp phải tính toán việc sử dụng nguồn tài nguyên như thế nào là tiết kiệm và hiệu quả nhất mà không ảnh hưởng tới doanh thu và lợi nhuận. Đặc biệt, công cụ kinh tế càng phát huy vai trò, hiệu quả của mình trong nên kinh tế thị trường. Ngày nạy, công cụ kinh tế đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi trên thế giới, đặc biệt là tại các nước công nghiệp phát triển OECD.
Bên cạnh các nước OECD, Công cụ kinh tế cũng được sử dụng khá phé biến ở các nước đang phát triển, bên cạnh công cụ mệnh lệnh và kiểm soát. Các công cụ khác ví dụ như công cụ giáo dục, truyền thông , công cụ kỹ thuật quan lý cũng được sử dụng nhăm bé sung, hỗ trợ cho hai công cụ pháp lý và kinh tế.3 Nguyên tắc cơ bản dé áp dung công cụ kinh tế trong quản lý môi trường Dé áp dụng công cụ kinh tế trong quan lý môi trường một cách phù hợp với cơ chế vận hành của nền kinh tế thị trường hiện nay thì cần dựa trên hai nguyên tắc cơ bản, đã được quốc tế thừa nhận là nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền và nguyên tac người hưởng lợi phải trả tiền.1 Nguyên tắc người gây 6 nhiễm phải trả tien (Polluter Pays Principle-PPP) Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền là nguyên tắc cơ bản quan trọng trong việc sử dụng các công cụ kinh tế, nó bắt nguồn từ các sáng kiến do Tổ chức Hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) đề xuất hợp tác vào các năm 1972 và 1974. Nguyên tac này xuất phat từ những luận điểm của Pigou về nền kinh tế phúc lợi. Trong đó, nội dung chính yếu quan trọng nhất là một nền kinh tế mà giá cả của hàng hóa và dịch vụ có thé phải phản ánh đầy đủ các chi phí xã hội, và các chi phí môi trường ( ví dụ như các chi phí phòng chống ô nhiễm, khai thác tài nguyên thiên nhiên cũng như những loại ảnh hưởng khác tới môi trường).
Như vậy, giá cả phải làm rõ, phản anh được những chỉ phí sản xuất và tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ trong đó có chi phí môi trường. SV: Hoàng Thi Như Quỳnh 10 GVHD: PGS.