Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam đang diễn ra mạnh mẽ, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng đồng thời kéo theo sự gia tăng suy thoái và ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Để đảm bảo phát triển bền vững, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đóng vai trò then chốt. Tại thời điểm nghiên cứu (năm 2013), Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) năm 2005 là văn bản pháp lý nền tảng nhưng đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập trước những biến đổi nhanh chóng của thực tiễn. Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tiến hành nghiên cứu sửa đổi toàn diện Luật BVMT 2005 để trình Quốc hội khóa XIII xem xét tại kỳ họp thứ 6 và thông qua tại kỳ họp thứ 7 năm 2014.
Một trong những hạn chế lớn nhất của Luật BVMT 2005 là việc áp dụng các công cụ kinh tế (CCKT) chưa được đặt ra một cách tích cực; các quy định còn mờ nhạt, thiếu tập trung và chưa đồng bộ, khiến hiệu quả điều tiết hành vi bảo vệ môi trường trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa đạt mức tối ưu. Đề tài "Sử dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường: nghiên cứu so sánh các quy định pháp luật của Việt Nam và một số quốc gia trên Thế giới" của tác giả Hoàng Thị Như Quỳnh được thực hiện nhằm cung cấp luận cứ khoa học và bài học kinh nghiệm quốc tế phục vụ quá trình hoàn thiện pháp luật.
Mục tiêu nghiên cứu của chuyên đề được xác định cụ thể:
- Rà soát các quy định pháp lý về công cụ kinh tế trong quản lý môi trường điển hình của Việt Nam và so sánh với quy định của một số quốc gia trên thế giới.
- Phát hiện các vấn đề không phù hợp, mâu thuẫn cũng như xu hướng nảy sinh các vấn đề mới liên quan đến các quy định về công cụ kinh tế cần được sửa đổi, bổ sung.
- Đề xuất một số nội dung bổ sung, sửa đổi trong dự thảo Luật BVMT sửa đổi về các vấn đề liên quan tới công cụ kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tế của Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu là hệ thống quy định pháp luật về công cụ kinh tế trong quản lý môi trường. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào khung pháp lý của Việt Nam (trọng tâm là Luật BVMT 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật liên quan tính đến năm 2013) đặt trong sự đối chiếu, so sánh với kinh nghiệm lập pháp của các quốc gia như Hà Lan, Trung Quốc, Hoa Kỳ, New Zealand, Đức, Thụy Điển, Fiji, Canada, Nhật Bản.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khung lý thuyết của đề tài dựa trên các khái niệm nền tảng về quản lý môi trường và kinh tế môi trường. Quản lý môi trường được định nghĩa là sự tác động liên tục, có tổ chức và hướng đích của chủ thể quản lý lên cá nhân hoặc cộng đồng nhằm đạt mục tiêu đề ra phù hợp với pháp luật. Hệ thống công cụ quản lý môi trường bao gồm 4 nhóm:
- Công cụ luật pháp và chính sách (các văn bản luật, tiêu chuẩn, giấy phép).
- Công cụ kỹ thuật quản lý (đánh giá môi trường, kiểm toán, quan trắc, xử lý chất thải).
- Công cụ giáo dục, nâng cao nhận thức (truyền thông, đào tạo).
- Công cụ kinh tế (công cụ dựa vào thị trường, tác động vào chi phí và lợi ích của các tác nhân kinh tế).
Việc áp dụng công cụ kinh tế hướng tới hai mục đích: điều chỉnh hành vi của nhà sản xuất, người tiêu dùng và tạo nguồn tài chính cho việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ môi trường. Ưu điểm nổi bật của công cụ kinh tế so với công cụ mệnh lệnh - kiểm soát là tính linh hoạt và hiệu quả chi phí cao hơn. Hai nguyên tắc quốc tế nền tảng được áp dụng gồm:
- Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền (Polluter Pays Principle - PPP): Xuất phát từ kinh tế học phúc lợi Pigou và các sáng kiến của OECD (1972, 1974), yêu cầu giá cả hàng hóa/dịch vụ phải phản ánh đầy đủ chi phí xã hội và chi phí môi trường.
- Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền (Beneficiary Pays Principle - BPP): Yêu cầu người sử dụng, hưởng lợi từ tài nguyên và dịch vụ môi trường phải chi trả chi phí cung cấp và bảo tồn nguồn lực đó.
Phương pháp nghiên cứu được triển khai bao gồm:
- Phương pháp kế thừa số liệu thứ cấp: Thu thập dữ liệu từ các văn bản quy phạm pháp luật, sách chuyên khảo, báo cáo của Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường, tài liệu của OECD, UNEP và các cơ quan nghiên cứu quốc tế.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Tổng hợp, mổ xẻ nội dung các điều khoản luật của Việt Nam và các nước, so sánh cấu trúc thể chế và cơ chế vận hành để rút ra nhận định, đánh giá chuyên môn.
Nội dung chính theo từng chương
Chương I: Cơ sở lý luận về công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
Chương này hệ thống hóa cơ sở lý luận về 7 công cụ kinh tế chủ yếu trong quản lý môi trường:
- Thuế môi trường, phí và lệ phí môi trường: Thuế đánh vào chất thải hoặc sản phẩm gây hại nhằm tăng hiệu suất sử dụng tài nguyên; phí bù đắp thiệt hại trực tiếp; lệ phí mang tính hoàn trả khi sử dụng dịch vụ công về môi trường.
- Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng: Giấy phép phát thải có định ngạch, cho phép mua bán, trao đổi giữa các doanh nghiệp nhằm đạt mức giảm thải tối ưu với chi phí xã hội thấp nhất.
- Hệ thống đặt cọc và hoàn trả: Buộc người mua trả thêm một khoản tiền cọc khi mua sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm/tái chế được, và nhận lại tiền cọc khi hoàn trả bao bì/sản phẩm đã qua sử dụng đến địa điểm quy định.
- Ký quỹ môi trường: Yêu cầu nộp tiền bảo đảm tại tổ chức tín dụng trước khi tiến hành hoạt động đầu tư có nguy cơ ô nhiễm (như khai thác khoáng sản), tiền ký quỹ được hoàn trả sau khi doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ phục hồi môi trường.
- Bồi thường thiệt hại môi trường: Cơ chế buộc chủ thể gây suy thoái, ô nhiễm phải khắc phục hiện trạng và bồi thường tổn thất tài sản, sức khỏe, hệ sinh thái theo quy định pháp luật.
- Nhãn sinh thái: Nhãn hiệu chứng nhận sản phẩm thân thiện với môi trường theo tiêu chuẩn ISO, tạo lợi thế cạnh tranh thị trường và định hướng hành vi tiêu dùng xanh.
- Quỹ môi trường: Thể chế tài chính tiếp nhận các nguồn thu (phí, viện trợ, xử phạt) và tài trợ cho các dự án cải thiện môi trường.
Chương II: Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trong Luật BVMT Việt Nam 2005 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan
Tác giả rà soát chi tiết mức độ thể chế hóa của từng công cụ trong hệ thống pháp luật Việt Nam tính đến tháng 5/2013:
- Thuế môi trường: Quy định tại Điều 112 và Khoản 8 Điều 35 Luật BVMT 2005. Được cụ thể hóa bằng Luật Thuế Bảo vệ Môi trường năm 2010 (hiệu lực từ 01/01/2012) đánh vào 8 nhóm sản phẩm (xăng dầu, than, dung dịch HCFC, túi nilon, thuốc bảo vệ thực vật/diệt cỏ/trừ mối/khử trùng kho). Hạn chế lớn là luật chỉ quy định thuế gián thu đánh vào sản phẩm đầu ra chứ chưa áp dụng thuế trực tiếp trên đơn vị ô nhiễm xả thải.
- Phí môi trường: Quy định tại Điều 113 Luật BVMT 2005. Đã ban hành các nghị định thu phí đối với 3 lĩnh vực: nước thải (Nghị định 67/2003/NĐ-CP, sau đó thay thế bằng Nghị định 25/2013/NĐ-CP với khung phí cố định tối đa 2,5 triệu đồng/năm cho cơ sở nhỏ dưới 30 m³/ngày đêm, phí biến đổi tính theo COD và TSS từ 1.000 đồng/kg, áp dụng hệ số K từ 2 - 21 cho kim loại nặng); chất thải rắn (Nghị định 174/2007/NĐ-CP, Thông tư 39/2008/TT-BTC với mức phí CTR thông thường dưới 40.000 đồng/tấn, CTR nguy hại dưới 6.000.000 đồng/tấn); khai thác khoáng sản (Nghị định 74/2011/NĐ-CP).
- Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng: Luật BVMT 2005 hoàn toàn chưa quy định. Mới chỉ bước đầu áp dụng qua Quyết định 130/2007/QĐ-TTg liên quan đến cơ chế phát triển sạch (CDM) và mua bán chứng chỉ giảm phát thải khí nhà kính (CERs).
- Hệ thống đặt cọc và hoàn trả: Chưa có quy định trong Luật BVMT 2005 cũng như các văn bản dưới luật.
- Ký quỹ môi trường: Điều 114 Luật BVMT 2005 quy định ký quỹ cải tạo phục hồi môi trường, nhưng trên thực tế mới chỉ triển khai trong khai thác khoáng sản theo Quyết định 71/2008/QĐ-TTg và Nghị định 160/2005/NĐ-CP.
- Bồi thường thiệt hại môi trường: Quy định tại các Điều 130 - 134 Luật BVMT 2005 và được hướng dẫn chi tiết qua Nghị định 113/2010/NĐ-CP (xác định thiệt hại đối với 4 đối tượng: nước, đất, hệ sinh thái và loài ưu tiên bảo vệ).
- Nhãn sinh thái: Điều 34 Luật BVMT 2005; các Quyết định 252/QĐ-BTNMT, 1492/QĐ-BTNMT, 1906/QĐ-BTNMT, 1907/QĐ-BTNMT và Quyết định 2322/QĐ-BTNMT năm 2010 phê duyệt tiêu chí Nhãn xanh Việt Nam cho 3 nhóm sản phẩm (bột giặt, bóng đèn huỳnh quang, bao bì nhựa tự phân hủy sinh học).
- Quỹ môi trường: Điều 115 Luật BVMT 2005 quy định việc thành lập Quỹ BVMT từ trung ương đến địa phương với 5 nguồn vốn hoạt động chủ yếu.
Chương III: Các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trong luật môi trường cơ sở của một số quốc gia
Chương III phân tích các bài học quốc tế điển hình theo từng công cụ:
- Thuế, phí môi trường:
- Hà Lan: Luật phí ô nhiễm nước tính theo đơn vị tương đương dân số (Population Equivalents - PE): hộ gia đình đô thị 3 PE, hộ nông dân 6 PE, xí nghiệp 3 PE hoặc đo trực tiếp đối với xí nghiệp lớn. Chính sách giúp giảm 50% lượng chất ô nhiễm nước giai đoạn 1969-1975 và giảm tiếp 20% đến năm 1980 trong 14 ngành công nghiệp.
- Trung Quốc: Áp dụng hệ thống thu phí ô nhiễm từ năm 1979 (phí nước thải chiếm 70% nguồn thu). Xây dựng 4 nguyên tắc định phí, áp dụng cơ chế tăng phí 5% nếu sau 3 năm doanh nghiệp không đạt chuẩn, trích 80% phí cho vay/tài trợ xử lý ô nhiễm và 20% cho bộ máy quản lý.
- Giấy phép xả thải có thể chuyển nhượng:
- Hoa Kỳ: Đạo luật Không khí sạch sửa đổi năm 1990 (Clean Air Act Amendments 1990), Điều 403 thiết lập chương trình hạn ngạch cho phép phát thải Sulfur Dioxide (SO₂), quy định chi tiết hệ thống theo dõi trong vòng 18 tháng, phân bổ và đấu giá hạn ngạch.
- New Zealand: Hệ thống trao đổi phát thải công khai số liệu hàng năm, quy định mức phạt lũy tiến khi vi phạm nộp hạn ngạch ($8.000 cho lần 1, $16.000 cho lần 2, $24.000 cho các lần sau, nộp về Tài khoản quốc gia - Crown Bank Account).
- Hệ thống đặt cọc và hoàn trả:
- Đức: Luật Đóng gói năm 1991 (sửa đổi 2005, 2006) áp dụng biểu trưng Green-Dot, quy định đặt cọc bắt buộc đối với bao bì đồ uống một chiều không thân thiện dung tích 0,1 - 3 lít từ tháng 5/2006.
- Thụy Điển: Pháp lệnh SFS 2005:220 và SFS 2006:1273. Số liệu thực tế ghi nhận tỷ lệ tái chế lon nhôm đạt từ 85% đến 92% (giai đoạn 1996-2008) và tỷ lệ thu hồi chai nhựa PET đạt 96% đến 100% (giai đoạn 1999-2007).
- Fiji: Luật Quản lý Môi trường năm 2005 (sửa đổi 2011) quy định mức đặt cọc 0,12 USD/chai đồ uống (nhôm, nhựa, PET), mức hoàn trả cho người tiêu dùng là 0,10 USD/chai, giữ lại 20% quỹ phục vụ chi phí hành chính và tái chế.
- Ký quỹ môi trường:
- Hoa Kỳ: Đạo luật Cải tạo và Kiểm soát mỏ lộ thiên năm 1977 (SMCRA 1977), quy định mức ký quỹ tối thiểu trên 10.000 USD cho toàn bộ khu vực cấp phép.
- Canada (Quebec): Luật Khai thác mỏ 1995 yêu cầu ký quỹ 70% chi phí ước tính phục hồi khu vực khai thác, thiết lập lịch trình ký quỹ tối đa 15 năm và giới hạn thời gian trì hoãn tối đa 2-3 năm.
- Bồi thường thiệt hại môi trường: Tồn tại 2 trường phái lập pháp (chỉ bồi thường chất lượng môi trường hoặc mở rộng sang sức khỏe, tài sản, văn hóa bản địa như tại Úc, Nga, Nhật Bản). Bốn nhóm phương pháp lượng hóa theo UNEP (2000) gồm: Tòa án/chuyên gia định giá (Ý, New Zealand); Bảng giá quy đổi cố định (Tây Ban Nha: phạt 2.500 đến 1,5 triệu peseta đối với loài quý hiếm; Hungary); Phương pháp Koch định giá cây xanh (Đức, Bỉ); Mô hình Ủy ban Điều phối Tranh chấp Môi trường (EDCC) và Ủy ban cấp tỉnh (PPECs) của Nhật Bản.
| Quốc gia |
Văn bản pháp luật / Chính sách tiêu biểu |
Công cụ kinh tế áp dụng |
Kết quả / Cơ chế nổi bật |
| Hà Lan |
Luật Phí ô nhiễm nước |
Phí nước thải tính theo PE |
Giảm 50% ô nhiễm nước (1969-1975) và 20% (1975-1980) |
| Trung Quốc |
Hệ thống thu phí ô nhiễm (1979) |
Phí phát thải (nước thải chiếm 70%) |
Tăng 5% mức phí sau 3 năm không đạt chuẩn; trích 80% vốn cho vay môi trường |
| Hoa Kỳ |
Clean Air Act Amendments (1990) |
Giấy phép phát thải chuyển nhượng SO₂ |
Đấu giá và kiểm soát hạn ngạch SO₂ trên toàn quốc |
| Thụy Điển |
Pháp lệnh SFS 2005:220 & SFS 2006:1273 |
Đặt cọc - hoàn trả lon nhôm, chai PET |
Tỷ lệ tái chế lon nhôm 85-92%; chai PET 96-100% |
| Fiji |
Environment Management Act (sửa đổi 2011) |
Đặt cọc - hoàn trả bao bì đồ uống |
Đặt cọc 0,12 USD/chai, hoàn trả 0,10 USD/chai, trích 20% phí quản trị |
| Canada (Quebec) |
Luật Khai thác mỏ (1995) |
Ký quỹ phục hồi môi trường |
Ký quỹ 70% chi phí phục hồi dự toán, lịch trình tối đa 15 năm |
| Nhật Bản |
Cơ chế hòa giải tranh chấp môi trường |
Bồi thường thiệt hại môi trường |
Vận hành Ủy ban EDCC (trung ương) và PPECs (cấp tỉnh) |
Chương IV: So sánh giữa các quy định của Việt Nam và các quốc gia khác
Chương này tổng hợp các bảng so sánh đối chiếu (từ Bảng 5 đến Bảng 10) về thuế/phí, giấy phép chuyển nhượng, đặt cọc hoàn trả, ký quỹ, bồi thường thiệt hại và nhãn sinh thái. Tác giả chỉ ra khoảng cách lớn giữa pháp luật Việt Nam và quốc tế: Việt Nam thiếu vắng các công cụ định hướng thị trường bậc cao (như hạn ngạch phát thải có thể mua bán, đặt cọc hoàn trả diện rộng), cơ chế thuế chưa gắn với nồng độ chất thải thực tế, và phạm vi áp dụng ký quỹ còn quá hẹp.
Chương V: Đề xuất một số nội dung cần được bổ sung sửa đổi liên quan đến công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trong Luật BVMT 2005
Trên cơ sở phân tích so sánh, tác giả đề xuất định hướng sửa đổi cho Dự thảo Luật BVMT sửa đổi:
- Bổ sung và mở rộng định nghĩa về thuế BVMT, chuyển dần từ thuế gián thu trên sản phẩm sang đánh thuế trực tiếp vào đơn vị phát thải ô nhiễm.
- Luật hóa công cụ đặt cọc và hoàn trả, áp dụng bắt buộc cho các loại bao bì một chiều và chất thải nguy hại (như ắc quy, pin, bao bì hóa chất).
- Mở rộng phạm vi ký quỹ phục hồi môi trường sang các ngành công nghiệp có nguy cơ ô nhiễm nghiêm trọng khác ngoài khai thác khoáng sản.
- Thiết lập khung pháp lý thử nghiệm cho cơ chế hạn ngạch phát thải có thể chuyển nhượng (đặc biệt đối với khí thải nhà kính và ô nhiễm không khí).
- Hoàn thiện phương pháp lượng hóa và thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại môi trường, học hỏi mô hình ủy ban hòa giải chuyên trách.
Kết quả và đóng góp
Nghiên cứu mang lại những kết quả và đóng góp cụ thể:
- Làm rõ thực trạng hệ thống văn bản pháp luật về công cụ kinh tế tại Việt Nam giai đoạn 2005-2013, chỉ ra điểm nghẽn của Luật BVMT 2005 khi chưa tạo dựng được cơ chế thị trường đồng bộ.
- Cung cấp nguồn số liệu thực chứng quốc tế chi tiết về hiệu quả của công cụ kinh tế (như dữ liệu thu hồi chai lọ của Thụy Điển giai đoạn 1996-2008, định mức cọc - hoàn trả tại Fiji năm 2011, tỷ lệ cắt giảm ô nhiễm nguồn nước của Hà Lan).
- Đưa ra hệ thống đề xuất có giá trị thực tiễn cao nhằm đóng góp trực tiếp cho quá trình soạn thảo và thông qua Luật BVMT năm 2014 của Quốc hội Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Chuyên đề tập trung chủ yếu vào nghiên cứu lý luận và so sánh pháp luật dựa trên các nguồn dữ liệu thứ cấp có sẵn đến thời điểm tháng 5/2013; chưa tiến hành điều tra khảo sát định lượng thực tế tại các doanh nghiệp Việt Nam để đo lường mức độ sẵn sàng chi trả (WTP) hoặc tính toán chi phí tuân thủ cụ thể khi áp dụng các công cụ mới.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Nghiên cứu đánh giá tác động chính sách (Regulatory Impact Assessment - RIA) và mô hình hóa kinh tế lượng khi luật hóa các công cụ đặt cọc hoàn trả và thị trường giao dịch hạn ngạch phát thải vào thực tiễn Việt Nam.
Giá trị tham khảo
Chuyên đề là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Kinh tế Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Luật Kinh tế và Luật Môi trường.
- Các cán bộ nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, Viện Chiến lược Chính sách Tài nguyên và Môi trường trong việc xây dựng các nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành pháp luật môi trường.
- Doanh nghiệp sản xuất, chế biến cần tìm hiểu quy định về phí nước thải, thuế bảo vệ môi trường, quy trình ký quỹ và tiêu chí Nhãn xanh Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Đề tài chỉ ra hạn chế cốt lõi nào của Luật Thuế Bảo vệ Môi trường năm 2010 của Việt Nam?
Luật Thuế BVMT năm 2010 (áp dụng cho 8 nhóm sản phẩm) là loại thuế gián thu đánh vào sản phẩm hàng hóa gây hại đầu ra, chứ chưa đánh trực tiếp vào đơn vị ô nhiễm phát thải trong quá trình sản xuất. Do đó, thuế chỉ có tác động gián tiếp (làm giảm lượng sản xuất/tiêu dùng đối với hàng xa xỉ) mà chưa tạo động lực trực tiếp buộc doanh nghiệp đầu tư công nghệ xử lý ô nhiễm tại nguồn.
2. Điểm mới của Nghị định số 25/2013/NĐ-CP về phí BVMT đối với nước thải so với Nghị định 67/2003/NĐ-CP là gì?
Nghị định 25/2013/NĐ-CP bổ sung mức phí cố định hàng năm tối đa 2,5 triệu đồng cho các cơ sở có lượng xả thải dưới 30 m³/ngày đêm nhằm giảm tải thủ tục kê khai. Đối với cơ sở xả từ 30 m³/ngày đêm trở lên, áp dụng mức phí biến đổi theo hàm lượng COD (từ 1.000 đồng/kg) và TSS, đồng thời nhân hệ số K từ 2 - 21 đối với nước thải có chứa kim loại nặng.
3. Cơ chế tính phí ô nhiễm nước tại Hà Lan hoạt động như thế nào và đạt kết quả ra sao?
Hà Lan áp dụng mức phí dựa trên đơn vị tương đương dân số (PE): hộ gia đình đô thị 3 PE, nông dân 6 PE, xí nghiệp vừa tính theo mô hình toán, xí nghiệp lớn đo trực tiếp PE. Nhờ đó, lượng ô nhiễm nước tại Hà Lan đã giảm 50% trong giai đoạn 1969-1975 và giảm thêm 20% trong giai đoạn 1975-1980 đối với 14 ngành công nghiệp.
4. Cộng hòa Quần đảo Fiji áp dụng công cụ đặt cọc và hoàn trả đối với bao bì đồ uống với định mức cụ thể nào?
Theo Luật Quản lý Môi trường sửa đổi năm 2011 của Fiji, tiền đặt cọc là 0,12 USD/chai (áp dụng cho chai nhôm, chai nhựa, chai PET); khoản tiền hoàn trả cho người tiêu dùng là 0,10 USD/chai (chiếm ít nhất 80% tiền cọc); 20% còn lại được giữ lại tại Quỹ của Cục Quản lý để trang trải chi phí hành chính, vận chuyển và tài trợ tái chế.
5. Các phương pháp xác định thiệt hại môi trường trên thế giới được phân loại như thế nào theo tài liệu?
Theo phân loại của UNEP (2000), có 4 nhóm phương pháp: (1) Tòa án hoặc chuyên gia môi trường trực tiếp xác định giá trị tổn thất (như tại Ý, New Zealand); (2) Quy đổi theo bảng giá tiền cố định cho từng loài/yếu tố tự nhiên (Tây Ban Nha, Hungary); (3) Viên chức hành chính hoặc chính quyền địa phương xác định; (4) Phương pháp định giá chuyên biệt khác (như phương pháp Koch định giá cây xanh tại Đức, Bỉ).
Kết luận
Chuyên đề tốt nghiệp của tác giả Hoàng Thị Như Quỳnh đã phân tích toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng pháp lý về các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường tại Việt Nam thời kỳ thi hành Luật BVMT 2005. Thông qua việc tổng hợp số liệu thực chứng và đối chiếu kinh nghiệm lập pháp của các nước phát triển và đang phát triển, công trình đã làm rõ những khoảng trống thể chế tại Việt Nam. Các phân tích và đề xuất trong chuyên đề là nguồn luận cứ khoa học có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện hệ thống chính sách và sửa đổi Luật BVMT năm 2014.