MỞ ĐẦU Từ khi hình thức nuôi thâm canh ra đời, nuôi tôm sú đã có bước đột phá về năng suất và hiệu quả kinh tế. Tuy nhiên, nghề nuôi tôm sú ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đã và đang gặp rất nhiều khó khăn do ảnh hưởng của môi trường, dịch bệnh và thị trường tiêu thụ. Điều đó đã làm cho nghề nuôi tôm sú trở nên không ổn định và thiếu tính bền vững. Đứng trước thực tế đó, mô hình “nuôi tôm sú thâm canh theo hệ thống đa chu kỳ - đa ao” được xây dựng (Bùi Quang Tề, năm 2008) với mục đích quản lý các yếu tố môi trường không vượt quá giới hạn chịu đựng của tôm, giảm thiểu dịch bệnh, có tốc độ tăng trưởng tốt và hiệu quả kinh tế cao nhất.
Cùng với xây dựng mô hình tối ưu đánh giá dữ liệu thu được trong điều kện sản xuất để tìm ra yếu tố sinh học cần điều khiển, nhằm đạt tới môi trường tối ưu nuôi tôm đạt hiệu quả cao và ổn định bền vững. Đồng thời đánh giá tác động về sức ép nhu cầu thị trường và tổ chức nhân lực để chọn chương trình tối ưu cho thu hoạch và nuôi lặp lại. Có nhiều yếu tố sinh học, kinh tế tác động đến hiệu quả của mô hình, trong đó có - Yếu tố kỹ thuật do tác động của con người: xây dựng và cải tạo ao, con giống mật độ mùa vụ hệ số thức ăn, thiết bị phục vụ và giám sát cho hoạt động nuôi tôm. - Các yếu tố môi trường như: nhiệt độ, pH, độ đục, oxy hòa tan, độ mặn, độ kiềm, NH3, NO2, H2S.
Các yếu tố này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng với các yếu tố khác và tôm nuôi trong ao hợp thành một hệ sinh thái ao nuôi tôm. Đây là một hệ phức tạp, tôm nuôi phát triển trong giới hạn của hệ và hoàn toàn phụ thuộc vào sự vận động của chính hệ đó. Do đó các quyết định về điều khiển hệ đưa ra trên quy luật vận động của hệ sinh thái ao nuôi. Để có được vụ nuôi đạt kết quả tốt trong bất kỳ mô hình nào thì vấn đề quản lý môi trường luôn được đặt lên hàng đầu.
Làm được điều này, chúng ta phải theo dõi biến động các yếu tố môi trường từ đó đưa ra những quyết định về sự điều khiển môi trường một cách tối ưu. Vì thế đề tài “Nghiên cứu biến động các yếu tố môi trường và sinh trưởng của tôm trong ao nuôi tôm sú (Penaeus monodon, Fabricius 1798) thâm canh đa chu kỳ đa ao tại Hải Phòng” được thực hiện với nội dung sau: 2 Nội dung: - Theo dõi diễn biến các yếu tố như: nhiệt độ, pH, độ đục, oxy hòa tan, độ mặn, độ kiềm, NH3, NO2, H2S, mực nước trong các ao nuôi tôm sú (Penaeus monodon, Fabricius 1798) thâm canh đa chu kỳ đa ao. - Đánh giá mối liên quan giữa sinh trưởng và yếu tố môi trường của tôm sú nuôi thâm canh đa chu kỳ đa ao. Sơ lược tình hình nuôi tôm trên thế giới và Việt Nam 1.
Tình hình nuôi tôm trên thế giới Trên thế giới, nghề nuôi tôm sú (Penaeus monodon) bắt đầu từ năm 1930 khi Motosaku Fujinaga thành công trong việc cho tôm sú sinh sản nhân tạo. ông đã ương nuôi thành công tôm sú từ giai đoạn bột lên tôm thịt trong phòng thí nghiệm cũng như sản xuất chung trên quy mô lớn. Những kinh nghiêm này được chia sẻ trên những ấn phẩm chuyên ngày vào năm 1935, 1941, 1942 và 1967 [10]. Đây là điểm khởi đầu cho sự phát triển của ngành công nghiệp nuôi tôm này.
Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản của thế giới giai đoạn 1964 - 2004 Đơn vị: 1000 tấn Khu vực 1984 1994 2000 2001 2002 2003 2004 Châu Phi 36,9 95,3 408 414,33 463,4 531,3 570,1 Bắc Mỹ 351,9 528,5 711,2 783,1 834,4 887,7 955,2 Nam Mỹ 58,6 341,2 74.238,7 Châu Ðại Dương 19,9 74,84 134,1 136,5 144,7 131 139,3 Tổng sản lượng 10.408 (Nguồn : Thống kê của FAO) Những năm thập kỷ 80, lượng tôm bán trên thị trường thế giới chủ yếu do đánh bắt ngoài tự nhiên. Năm 1985, nghề nuôi tôm phát triển nhanh đột ngột và trở thành một ngành công nghiệp nhiều lợi nhuận nhưng cũng lắm rủi ro. sản lượng tôm chiếm 30% và 58% tổng sản lượng tôm bán ra trên thế giới vào năm 1995 và 1996 [10]. Ngày nay, tôm Sú là một loại hàng hóa thu hút rất nhiều các chủ đầu tư do nghề nuôi tôm mang lại lợi nhuận không nhỏ cho người nuôi.
Theo số liệu của FAO sản lượng tôm nuôi của cả năm 2003 ước đạt 1,35 triệu tấn tăng 11% so với sản lượng ước tính năm 2002 và 15% so với sản lượng thực tế năm 2001. Riêng Trung Quốc sản lượng ước đạt 390.000 tấn, tăng 15% so với sản lượng ước tính năm 2002 và 28% sản lượng thực tế năm 2001 là 30. Sản lượng của Việt Nam tăng mạnh từ 50. Xét về năng suất trung bình thì những quốc gia có diện tích nuôi tôm nhỏ (< 250 ha) thường đạt năng suất bình quân cao (> 2000 kg/ha) như Venezuela, Mỹ, Nhật, Úc, Đài Loan, Malaysia, với những quốc gia có khoa học kỹ thuật cao như Nhật Bản thì năng suất bình quân lớn hơn 3000 kg/ha/vụ [6].
Bên cạnh những lợi nhuận mang lại thì những thiệt hại do nghề nuôi tôm gây ra cũng rất lớn. Năm 1987 – 1988 dịch bệnh xảy ra đối với ngành công nghiệp nuôi tôm ở Đài Loan gây thiệt hại 80% sản lượng. Tại Trung Quốc, sản lượng đã giảm sút 92.000 tấn từ năm 1992 đến năm 1993. Gần đây, sản lượng tôm Thái Lan năm 2002 giảm 60.000 tấn so với năm 2001.
Để tránh những thiệt hại do tôm sú gây ra Thái lan đã đưa tôm he chân trắng vào nuôi thử nghiệm và loài này đã chiếm 10% tổng sản lượng tôm cả nước vào năm 2003 [3]. Ngày nay hệ sinh thái trong các ao nuôi tôm công nghiệp của các quốc gia trên thế giới đang bị suy thoái. Để đảm bảo tính bền vững của nó Chính phủ nhiều nước đã có nhiều chính sách, biện pháp để quản lý môi trường chặt chẽ hơn như: Cải biến thức ăn: Xu thế chuyển dần sang thức ăn vi sinh lượng, thức ăn công nghiệp có độ đạm thấp (< 20 %) áp dụng ngày một nhiều hơn. Cải biến mô hình nuôi: Các mô hình nuôi thay nước trước kia dần được thay thế bằng mô hình nuôi khép kín không thay nước.
Điển hình là Mỹ, một nước có nền công nghiệp nuôi tôm nhỏ nhưng đa dạng với nhiều ứng dụng công nghệ mới. Ngày nay, nghề nuôi tôm ở Mỹ đang chuyển dần sang nuôi tuần hoàn, khép kín ở những vùng nước lợ và nước ngọt với mật độ cao >30 con/m2, nuôi trong nhà kính với mật độ 115 – 130 con/m2 sử dụng thức ăn với hàm lượng protein < 20 % và thường nuôi một vụ/năm vào tháng 5 đến tháng 10 [6]. Tình hình nuôi tôm ở Việt Nam Vào thập kỷ 70 của thế kỷ 20, ở miền Bắc và miền Nam Việt Nam đều tồn tại hình thức nuôi tôm quảng canh. Theo Ling (1973) và Rabanal (1974), diện tích nuôi tôm ở đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ này đạt khoảng 70.
Ở Miền Bắc, trước năm 1975 có khoảng 15.000 ha nuôi tôm nước lợ. Nghề nuôi tôm Việt Nam thực sự phát triển từ sau năm 1987 và nuôi tôm thương phẩm phát triển mạnh vào những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước. Các yếu tố quan trọng chi phối sự phát triển ngành nuôi tôm trong thời kỳ này gồm: du 5 nhập và cải tiến thành công công nghệ sản xuất giống tôm nhân tạo, công nghệ nuôi thương phẩm, nhu cầu tôm trên thị trường thế giới tăng cao và các chính sách đổi mới kinh tế của Chính phủ. Đến những năm 1994-1995, phát triển nuôi tôm ở Việt Nam có phần chững lại do gặp phải nạn dịch bệnh tôm.
Trong các năm 1996 -1999, bệnh dịch có giảm nhưng vẫn tiếp tục gây thiệt hại cho người nuôi. Sự phát triển nhanh của nghề nuôi tôm thương phẩm được đánh dấu vào năm 2000, khi Chính phủ ban hành Nghị quyết 09, cho phép chuyển đổi một phần diện tích trồng lúa, làm muối năng suất thấp, đất hoang hoá sang nuôi trồng thuỷ sản. Diện tích nuôi tôm đã tăng từ 250.000 ha năm 2000 lên đến 478. Chỉ trong vòng một năm sau khi ban hành Nghị quyết 09, đã có 235.900 ha ruộng muối và 1.200 ha diện tích đất hoang hoá ngập mặn được chuyển đổi thành ao nuôi tôm.
Cho đến nay, diện tích nuôi tôm ở Việt Nam vẫn tiếp tục tăng, tuy nhiên tốc độ đã có phần chững lại. Theo số liệu hiện có, Việt Nam là nước có diện tích nuôi tôm vào loại lớn trên thế giới, vượt xa Indonexia, nước có diện tích nuôi tôm lớn nhất vào năm 1996, khoảng 360.000 ha (Hanafi và T. Phần lớn diện tích nuôi tôm ở Việt Nam tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long, rải rác dọc các cửa sông, kênh, rạch ven biển miền Trung và ở đồng bằng sông Hồng, sông Thái Bình ở miền Bắc. Diện tích nuôi nước lợ mặn và nuôi tôm của Việt Nam qua các năm (ha) Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006 Diện tích nước lợ 502.2 mặn Diện tích nuôi tôm 454.9 (Nguồn: Báo cáo Bộ Thuỷ sản từ 1990-2003) Song song với việc mở rộng diện tích, sản lượng tôm nuôi cũng tăng mạnh từ những năm 90 và đặc biệt là từ sau năm 2000 (Bảng 1.2), Việt Nam trở thành một trong 5 nước có sản lượng tôm nuôi cao nhất trên thế giới.
Các loài tôm nuôi chính ở Việt Nam gồm tôm Sú (Penaeus monodon), tôm He mùa (Penaeus merguiensis), tôm Nương (P. orientalis), tôm Đất/Rảo (Metapenaeus ensis), trong đó tôm Sú là loài nuôi 6 chủ đạo, đóng góp sản lượng cao nhất. Gần đây tôm chân trắng Nam Mỹ (P. vannamei) cũng được đưa vào nuôi ở Việt Nam nhưng sản lượng nuôi chưa đáng kể.
Sản lượng tôm nuôi của Việt Nam 1986 - 2002 (tấn) Khu vực 1990 1995 1999 2000 2001 2002 Miền Bắc 1.215 Bắc Trung bộ 168 888 1,351 1.387 Nam Trung bộ 589 4.890 Đông Nam bộ 542 1.359 Tây Nam bộ 30. Tầm quan trọng của quản lý chất lượng nước trong ao nuôi tôm 1. Tầm quan trọng của môi trường ao nuôi Nước là môi trường sống của tôm. Mọi hoạt động sống như hô hấp, bắt mồi, lột xác đều diễn ra trong môi trường nước.
Tôm chỉ có thể sống trong môi trường nước lợ hoặc mặn có độ mặn từ 5‰ - 35‰. Ngoài ra, những yếu tố môi trường khác như oxy hoà tan, nhiệt độ, pH, độ kiềm… cũng có mối quan hệ mật thiết với sự sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi.