Chương 1 - TỔNG QUAN 1. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ TÔM 1. Phân loại Tôm sú thuộc: Ngành: Athropoda – Ngành chân khớp. Ngành phụ: Antennata – Ngành phụ râu.
Lớp: Crustacea – Lớp giáp xác. Bộ: Decapoda – Bộ mười chân. Bộ phụ: Natantia – Bộ phụ bơi lội. Họ chung: Penaeidea.
Họ: Penaeidea – Họ tôm he. Loài: Penaeus monodon. Hình 1: Hình dạng ngoài của tôm sú Penaeus monodon 15 1. Đặc điểm sinh học của tôm [6].
Hình dạng ngoài: Tôm thuộc loài giáp xác, thân dài hơi tròn, được bao bằng một lớp vỏ mỏng cấu tạo bằng chất chitine thấm canxi. Màu sắc của tôm do sắc tố thuộc lớp cuticum hay những tế bào riêng biệt quyết định. Thân tôm sú khi còn sống có màu hơi xanh lục xám, có chín vạch trắng trong vắt qua thân hoặc có lúc màu chuyển sang xanh nâu. Thân tôm gồm 20 đốt phân thành hai phần: đầu ngực và bụng, các phần đó đều mang phần phụ rất phân hóa.
Hệ thần kinh: Hệ thần kinh của tôm khá phát triển, bao gồm một chuỗi hạch. Ngoài ra hệ thần kinh giao cảm có hạch và dây đi tới phần đầu ống tiêu hóa. Giác quan có những lông râu và các phần phụ miệng làm nhiệm vụ xúc giác, khứu giác và vị giác. Bình nang thu nhận cảm giác thăng bằng ở gốc râu.
Hệ tiêu hóa: Hệ tiêu hóa của tôm rất phát triển, nằm ở phía lưng và ngay dưới mai đầu ngực. Miệng ở phía bụng của phần đầu ngực. Ống tiêu hóa phân thành 3 phần: ruột trước, ruột giữa và ruột sau. Ở ruột trước, dạ dày có cơ quan nghiền đặc biệt có cấu tạo bằng những nếp chitine gọi là cối xay dạ dày.
Ruột song song với động mạch chủ lưng đi đến chót đuôi và tận cùng bằng hậu môn. Gan, tụy nằm giữa hai mang thất. Thức ăn của tôm là các động vật nhỏ, vụn hữu cơ, vi khuẩn và tảo. Hệ hô hấp: Tôm thở bằng mang, mang gồm nhiều sợi nhỏ có một lớp tế bào mỏng bọc bên ngoài, một hệ thống các vi huyết quản.
Mang có quan hệ tương đối chặt chẽ với hệ tuần hoàn. Hệ tuần hoàn: - Gồm có tim và các mạch máu. Tim nằm ngay lớp dưới mai đầu ngực, phía sau và trên bộ phận sinh dục. Tim hình có 6 cạnh có 6 lỗ thủng.
- Tôm sú có hệ thống tuần hoàn hở, huyết sắc tố không màu, khi gặp không khí sẽ chuyển thành màu xanh nên gọi là huyết thanh tố (Haemocyanin). Khí oxy được hô hấp qua mang theo đường tuần hoàn đi khắp cơ thể để nuôi các tổ chức tế bào. 16 Tuyến nội tiết: Tôm có nhiều tuyến nội tiết tham gia điều khiển lột xác và biến đổi màu sắc, sinh tinh và phân hóa giới tính như: - Tuyến lột xác điều khiển quá trính sinh trưởng, tái sinh và lột xác. - Tuyến xoang nằm ở mống mắt, điều tiết quá trình lột xác, đồng thời có tác dụng đến quá trình sinh trứng và thay đổi màu sắc.
- Tuyến sinh tinh bám vào ống dẫn tinh để kiểm soát mọi sự phân hoá sinh dục ở con đực, còn ở con cái thì buồng trứng làm nhiệm vụ này. Di cư và phân bố Tôm thường phân bố ở các vùng biển cạn, trong các vịnh, ven biển. Lúc còn bé tôm sống ở khu vực nước nông, khi lớn tôm đi dần ra xa bờ ở những vùng có độ sâu từ 29÷40m, tập trung nhiều ở nhất ở phạm vi 30m nước trở vào. Mùa hè tôm thường sống ở vùng bãi triều, mùa đông di cư ra vùng biển rộng.
Ban ngày tôm vùi mình dưới cát, ban đêm hoặc bình minh tôm đi bắt mồi. Khi bé tôm sống ở khu vực ven bờ sông, khi trưởng thành và gần đến thời kỳ thành thục tuyến sinh dục tôm di cư dần ra biển để kết đàn giao vĩ và đi đẻ. Tập tính di cư và phạm vi phân bố của tôm phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kích thước, mùa vụ, độ mặn, chất đáy và thức ăn… Môi trường thích nghi của tôm sú[10] - Nhiệt độ nước biển: 25÷33oC. - Độ mặn nước biển: 10÷20‰.
- Chất đáy: cát hoặc cát pha bùn. Ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến sự sống của tôm. Nhiệt độ của nước. Tôm cũng như tất cả các động vật sống dưới nước thuộc loại máu lạnh trái với loại thân nhiệt như con người chúng ta.
Tôm thay đổi nhiệt độ theo môi trường bên ngoài. Nhiệt độ ảnh hưởng đến nhiều phương diện trong đời sống của tôm: hô hấp, tiêu thụ thức ăn, đồng hoá thức ăn, miễn nhiễm đối với bệnh tật, sự tăng trưởng… Tôm có thể chịu đựng sự thay đổi nhiệt độ 0,2oC/phút, nhưng khi nhiệt độ nước thay đổi đột ngột 3 hay 4oC hoặc vượt quá giới hạn thích ứng sẽ gây sốc, thậm chí làm tôm chết. Sự thay đổi của nhiệt độ là nguyên nhân chính làm thay đổi tốc độ trao đổi chất, rối loạn sự hô hấp, làm mất cân bằng pH máu. 17 Rowland (1986) cho rằng: khoảng nhiệt độ thích hợp cho sống sót và sinh sản của các loài tôm nuôi tương đối rộng, nhưng khoảng nhiệt độ cho tăng trưởng cực đại thì rất hẹp.
Ví dụ: Dải nhiệt độ giới hạn của tôm sú từ 12-37,5oC, nhưng khoảng nhiệt độ thích hợp nhất cho tăng trưởng của nó chỉ từ 25-30oC. Đối với các loài tôm nhiệt đới sẽ không phát triển tốt khi nhiệt độ nước giảm xuống dưới 26-28oC và có thể chết nếu nhiệt độ giảm xuống dưới 10 hay 15oC. Độ pH Độ pH ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến sự sống của tôm, pH thấp có thể làm tôm bị tổn thương các phần phụ, mang. Theo Swingle (1969), sự ảnh hưởng của pH đến tôm nuôi được trình bày như sau: điểm chết acid 4 4 không sinh sản 5 Sinh trưởng chậm 6 6,5 6,5 7 giới hạn mong muốn 8 đối với tôm nuôi 9 9 9,5 10 không sinh sản Sinh trưởng chậm 11 điểm chết bazơ 11 Hình 2: Ảnh hưởng của pH đến tôm, cá nuôi trong ao.
Ảnh hưởng mang tính chất sinh lý đối với tôm nuôi là duy trì sự cân bằng pH của máu trong cơ thể. Khi pH giảm xuống thấp (pH<5) sẽ làm giảm khả năng vận chuyển oxy, giảm khả năng đề kháng của tôm đối với bệnh nhất là bệnh vi khuẩn. Khi pH tăng cao (pH>9) sẽ làm cho các tế bào ở mang và các mô của tôm bị phá huỷ. Trong ao nuôi thuỷ sản rất hiếm khi pH<5 và pH>9.
Bởi vậy ảnh hưởng trực tiếp của pH quá cao hoặc quá thấp thường không đáng kể bằng ảnh hưởng gián tiếp của pH: - Hàm lượng ammonia trong môi trường nước thường cao, pH cao sẽ làm tăng độc tính NH3 đối với tôm. 18 - Khi pH thấp sẽ làm tăng độc tính của H2S đối với tôm. Oxy hoà tan Trong ao nuôi tôm, lưọng oxy hoà tan trong nước rất quan trọng trong quá trình hô hấp của tôm. Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng nhiều nhất đến sự sống của tôm.
Lượng dưỡng khí thấp trong nước dễ gây tôm chết nhiều hơn cả. Hàm lượng oxy hoà tan trong nước thích hợp nhất cho tôm là khoảng 5-6ppm. Chính vì thế, nếu lượng oxy trong ao không đủ sẽ ảnh hưởng và làm giảm sức đề kháng của tôm, có khi gây tử vong cho tôm do ngạt thở. Ảnh hưởng của oxy hoà tan đối với tôm nuôi như sau: 0 0,3 Tôm bị chết Oxy hoà tan trong nước (mg/l) 1,0 Tôm bị ngạt thở 2,0 Tôm không lớn được 3,0 Tôm lớn chậm 4,0 Tôm sinh sống bình thường 5,0 Tôm sống khoẻ mạnh 6,0 và 7,0 Tăng trưởng nhanh Hình 3: Ảnh hưởng của oxy hoà tan đến tôm nuôi trong ao.
Khi hàm lượng oxy giảm thấp còn làm môi trường nước xuất hiện các độc tố gây độc hại cho tôm như: NO2, H2S… Do đó, thiếu oxy là nguyên nhân chủ yếu làm chết tôm nhiều nhất. Khi nuôi tôm ở mật độ dày, giữa mật độ nuôi và hàm lượng oxy có mối quan hệ qua lại. Vì tôm không chỉ làm giảm oxy do trực tiếp sử dụng vào hô hấp, mà còn làm giảm gián tiếp bằng cách thúc đẩy sự tiêu hao oxy bởi lượng các chất thải mà chúng thải ra môi trường nước. Ammonia Trong ao hồ, ammonia được hình thành từ sự bài tiết của động vật, từ quá trình phân huỷ protein trong vật chất hữu cơ và chất thải của tôm, cá bởi vi sinh vật ở điều kiện bình thường (có oxy) và điều kiện yếm khí (không có oxy).
Bên cạnh đó, khi hàm lượng oxy hoà tan thấp, NO3- sẽ chuyển hoá thành NH4+ nhờ vi sinh vật (gọi là sự amôn hoá nitrat). NO3- NO2- NH2OH NH4+ Trong nước ammonia được chia làm 2 nhóm: nhóm NH3 gọi là ammonia không ion hoá và nhóm NH4+ gọi là ammonia ion hoá, trong đó ammonia không ion hoá NH3 là chất độc đối với tôm. Ammonia không ion hoá NH3 có độc tính cao hơn ammonia ion hoá NH4+ từ 300 đến 400 lần. Sự phân chia này chịu ảnh hưởng của pH, nhiệt độ, và độ mặn nhưng pH ảnh huởng quan trọng hơn cả, Nếu tăng 1 đơn vị pH thì sẽ tăng 10 lần tỷ lệ ammonia NH3.
Tỷ lệ % NH3 trong tổng hàm lượng ammonia ở các nhiệt độ và pH khác nhau được thể hiện trong bảng sau: Bảng 1: Tỷ lệ % NH3 trong tổng hàm lượng ammonia ở các nhiệt độ và pH khác nhau Nhiệt độ (oC) pH 12 20 24 28 7,0 0,2 0,4 0,5 0,7 8,0 2,1 3,8 5,0 6,6 8,2 3,3 5,9 7,7 10,0 8,4 5,2 9,1 11,6 15,0 8,6 9,7 13,7 17,3 21,8 8,8 12,0 20,1 24,9 30,7 9,0 17,8 28,5 34,4 41,2 9,2 25,8 38,7 45,4 52,6 9,4 35,5 50,0 56,9 63,8 Ví dụ: khi phân tích tổng ammonia = 3ppm, pH=8, nhiệt độ 28oC. Theo bảng thì chỉ có 6,6% của tổng ammonia là NH3 có tính độc (0,198ppm). Tại cùng một nhiệt độ nếu pH=9 thì 41,2% của tổng ammoni đã đo (3ppm) sẽ có tính độc và bằng 1,23ppm. Như vậy, khi pH tăng sẽ làm tăng độc tính của NH3.
20 NH3 là chất độc theo liều lượng, rất độc đối với tôm; nồng độ tối đa có thể chấp nhận trong ao nuôi tôm là 0,1ppm. Để làm giảm độc tính của ammonia cần phải tăng cường oxy hoà tan trong nước.