Chương 1 TỎNG QUAN 1. Sơ lược về tôm sú (Penaeus monodon Fabricius, 1798) 1. Phân loại Theo hệ thống phân loại của Holthuis (1980), tôm sú được phân loại như sau: Ngành: Arthropoda (Chân khớp) Lớp: Crustacea (Giáp xác) Bộ: Decapoda (Mười chân) Họ: Penaeidae (Tôm he) Giống: Penaeus Loài: Penaeus monodon Fabricius, 1798 Tén tiéng Anh: Black Tiger Shrimp, Giant Tiger Shrimp, Giant Tiger Prawn. Tên tiếng Việt: Tôm su.
Phân bố Phạm vi phân bố tự nhiên của tôm sú khá rộng từ khu vực Ấn Độ Dương — Tây Thái Bình Dương, trải từ bờ đông Châu Phi, bán đảo Ả Rập, đến tận Đông Nam Á và biển Nhật Bản. Ở đông Úc cũng có loài này và một lượng nhỏ tôm sú cũng đi vào Dia Trung Hải qua kênh dao Suez. Ngoài ra còn có ở Hawaii va bờ biên Dai Tây Duong của Mỹ như Florida, Georgia và Nam Carolina (Racek, 1955; Holthuis va Rosa, 1965; Motoh 1981, 1985). Nhìn chung, tôm st phân bố từ 30°E đến 155°E theo kinh độ và từ 35°N đến 35°S theo vĩ độ, với các ngư trường chính nằm ở các nước nhiệt đới, đặc biệt là các nước Indonesia, Malaysia và Philippines (Motoh, 1981).
Ở Việt Nam, do có đường bờ biển dài trên 3.260 km nên tôm si phân bố trải dài từ miền Bắc, các tinh duyên hải miền Trung và ĐBSCL. Phạm vi phân bố tự nhiên của Penaeus monodon (Nguồn: FAO, 2012 trích dẫn bởi Fuller và ctv, 2014) 1. Dinh dưỡng và sinh trưởng Theo Marte (1982), thức ăn của tôm sú bao gồm các loài giáp xác (cua và tôm nhỏ), động vật thân mềm chiếm 85% lượng thức ăn ăn vào và 15% còn lại gồm cá, giun nhiều tơ, mảnh vụn, cát, phù sa. Điều này chỉ ra rằng tôm sú giống như một kẻ săn môi nhiều hơn.
Hầu như hoạt động kiếm ăn của tom st tăng lên trong thời gian thủy triều xuống (Marte, 1982) và cho thấy sở thích thay đổi thức ăn theo mùa (Kuttyama, 1973). Các loài này kiếm ăn bằng cách lấy thức ăn với những đôi chân bò và day thức ăn vào miệng (Villadolid và Villaluz, 1951). Thức ăn sẽ được tiêu hóa và thải ra ngoài 4 giờ sau khi ăn (Marte, 1982). Để tăng trưởng và phát triển, tôm sú cần phải lột xác nhiều lần.
Sau mỗi lần lột xác, tôm su tăng trưởng về chiều dai và trọng lượng trung bình từ 10 — 15% so với trước khi lột xác. Chu kì lột xác tùy thuộc vào môi trường nước, điều kiện dinh dưỡng và các giai đoạn phát triển của cá thể (Nguyễn Văn Chung và Phạm Thị Dự, 1995). Tôm sú là loài sông nơi chất đáy bùn pha cát ở độ sâu ven bờ đến 40 m nước và độ mặn từ 5 — 34o, tôm su có kha năng sinh trường nhanh, trong 3 — 4 tháng có thé dat cỡ trung bình 40 — 50g (Nguyễn Văn Chung va Pham Thi Dự, 1995). Tôm st thuộc loại dị hình phái tính, con cái có kích thước lớn hơn con đực ở cùng độ tuổi.
Tôm trưởng thành tối đa với con cái có chiều dai từ 220 — 250 mm, trọng lượng dat 100 — 300g, con đực dài 160 — 200 mm, trọng lượng đạt 80 — 200g (Nguyễn Văn Chung và Pham Thị Dự, 1995). Sinh sản Tôm st là loài có kích cỡ lớn, chúng có thé thành thục ở kích cỡ 35g đối với con đực và 67,7g đối với con cái. Trong ao, tôm đực có thể thành thục ở trọng lượng 20g và con cái ở 41,3g (Motoh, 1981). Tôm cái mang trứng thường bắt gặp ở khơi xa, ở độ sâu 20 — 70 m nước, tuy nhiên đôi khi cũng bắt gặp ở vùng cạn hơn (Trần Thị Việt Ngân, 2002).
Tôm st là loài thuộc loại có thelycum kin, giao vĩ xảy ra sau khi con cái lột xác và vào ban đêm (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004). Sau khi tôm đẻ 14 — 15 giờ, ở nhiệt độ 27 — 28°C, trứng sẽ nở thành ấu trùng, theo các làn sóng biển dạt vào các vùng nước lợ. Trong môi trường này, ấu trùng (larvae) chuyển sang thời kỳ hậu ấu trùng (postlarvae) rồi đến tiền trưởng thành (juvenile) va bơi ra biển tiếp tục chu trình sinh trưởng, phát triển và sinh sản của chúng (Nguyễn Văn Thường và Trương Quốc Phú, 2009). Tình hình và mô hình nuôi tôm 1.
Tình hình nuôi tôm ở tỉnh Cà Mau Cà Mau là tỉnh cực nam của Việt Nam, là địa phương duy nhất của Việt Nam giáp cả biển Đông và biển Tây thuộc khu vực ĐBSCL. Phía bắc giáp tỉnh Kiên Giang, phía Đông Bắc giáp tinh Bạc Liêu, phía Đông và Đông nam giáp biển Đông và phía Tây giáp Vịnh Thái Lan (www. Tổng điện tích tự nhiên của Ca Mau là 5.87 km”, bằng 1,58% diện tích cả nước và 12,97% diện tích ĐBSCL. Trong đó, diện tích đất nuôi trồng thủy sản (NTTS) trên 266.735 ha, đất trồng lúa 129.204 ha, đất lâm nghiệp 103.
Tỉnh Cà Mau được phân chia thành 9 đơn vị hành chính gồm Thành phố Cà Mau và các huyện như Trần Văn Thời, Thới Bình, U Minh, Cái Nước, Phú Tan, Đầm Doi, Năm Căn va Ngọc Hiển, trong đó Thành phố Cà Mau là trung tâm kinh tế, chính trị - hành chính của tỉnh (www. Cà Mau có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chang chit và đan xen nhau chiếm 3,02% diện tích tự nhiên, trong đó có nhiều sông lớn, mực nước sâu, dẫn phù sa bồi đắp vào sâu trong đất liền như các sông Tam Giang, Gành Hào, Bảy Háp, Sông Đốc, Đầm Dơi, Cái Tàu, Trèm Trem (www. Ca Mau có tiềm năng, lợi thế rất lớn về phát triển thuỷ sản đặc biệt là về nuôi tôm chủ yếu là tôm st, với ba mặt giáp biển, chiều dài bờ biến trên 254 km với trên 80 cửa sông thông ra biển lớn, chịu ảnh hưởng bởi hai chế độ triều đặc trưng của vùng Bién Đông và Biển Tây. Vì thế, phần lớn diện tích đất đều có nguồn nước mặn lợ với chất lượng khá tốt, đáp ứng cho nhu cầu phát triển nuôi tôm đây là thế mạnh không nơi nào có được, góp phan tạo nên thương hiệu tôm của Cà Mau nói riêng và Việt Nam nói chung nổi tiếng trên thế giới (Theo Báo cáo kết qua thực hiện phát triển nuôi tôm năm 2021 và kế hoạch năm 2022 trên địa bàn tỉnh Cà Mau, 2022).
Diện tích nuôi tôm của Cà Mau chiếm 45% diện tích nuôi tôm của khu vực ĐBSCL và chiếm 40% điện tích nuôi tôm cả nước (www. Theo thống kê của Ủy ban Nhân Dân tỉnh Cà Mau năm 2022, hiện tỉnh Cà Mau có hơn 300.000 ha NTTS, điện tích nuôi tôm mặn, lo ước đạt 278. Trong đó, diện tích đất nuôi tôm công nghiệp (thâm canh và siêu thâm canh) đạt 6.247,32 ha (siêu thâm canh 4.336,99 ha, năng suất nuôi đạt từ 40 -50 tân/ha/vụ; tôm thâm canh 1.910 ha, năng suất trung bình 5 tắn/ha/năm đối với tôm st và 8 tắn/ha/năm đối với tôm thẻ chân trắng), điện tích đất nuôi tôm quảng canh cải tiễn (QCCT) đạt 176.276 ha và điện tích đất nuôi tôm quảng canh kết hợp là 96. Diện tích tôm nuôi ở các huyện của tỉnh Cà Mau năm 2020 — 2022 Diện tích (ha) Huyện B Nuôi tôm công nghiệp Quảng canh cải tiên Tôm -— lúa Tôm - rừng Quảng canh kêt hợp Năm 2020 2021 2022 2020 2021 2022 2020 2021 2022 2020 2021 2022 2020 2021 2022 Tổng 8530/75 792703 6.331 (Nguôn: https://nongnghiepcamau.vn/linh-vuc-thuy-san/so-lieu-bao-cao/bao-cao-nuoi-trong-thuy-san/Tongdientichnuoitom) với các loại hình nuôi tôm sú sinh thái, tôm — rừng, tôm — lúa có tiềm năng và lợi thế rất lớn cả về diện tích, sản lượng va chat lượng sản phẩm (https://nongnghiepcamau.vn/linh- vuc-thuy-san/bao-cao-cho-lanh-dao/bao-cao-nam-2022-chi-cuc-thuy-san).
Hiện nay, sản phẩm tôm của Cà Mau đã có mặt trên 90 quốc gia và vùng lãnh thổ với bốn thị trường chính là Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc. Từ tiềm năng, lợi thế và giá trị được tạo ra từ tôm Cà Mau, có vai trò quyết định cho sự phát triển của ngành tôm Việt Nam ở hiện tại cũng như ở trong tương lai. Mặt khác, Cà Mau đang dan phát triển mô hình tôm sinh thái và được nhiều tổ chức quốc tế cấp giấy chứng nhận (ASC, B.P, Global GAP, Organic EU, Naturland). Bên cạnh đó, ngày 30/09/2021, Cục Sở hữu trí tuệ đã ban hành Quyết định số 4287/QD — SHTT về việc cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý số 00110 cho sản phẩm tôm sú Cà Mau do Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Cà Mau tô chức quản lý chi dan địa lý, đây là cơ sở quan trong dé bảo vệ danh tiếng, tránh các hình thức xâm phạm về nguồn gốc xuất xứ của tôm sú Ca Mau, là một trong những hướng đi mới day triển vọng dé xây dựng thương hiệu tôm sinh thái ở Ca Mau (https://1pvietnam.vn/danh-sach-cac-chI- dan-ia-ly-uoc-bao-ho-tai-viet-nam).
Tinh hình nuôi tôm ở tỉnh Bac Liêu Bạc Liêu là tỉnh ven biển vùng ĐBSCL thuộc vùng Bán đảo Cà Mau. Có điện tích tự nhiên là 2.667,8822 km}, trong đó 59% thuộc tiểu vùng Ban đảo Ca Mau. Phía Bắc giáp tỉnh Hậu Giang và tỉnh Kiên Giang, phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Sóc Trăng, phía Nam và Đông Nam giáp Biển Đông và phía Tây và Tây Nam giáp tỉnh Cà Mau. Tỉnh Bạc Liêu được phân chia thành 07 đơn vị hành chính cấp huyện gồm thành phố Bạc Liêu; thị xã Giá Rai và các huyện như Đông Hải, Hòa Bình, Hồng Dân, Phước Long, Vĩnh Lợi (Báo cáo tổng hợp “Phương án phát triển ngành tôm tinh Bạc Liêu giai đoạn 2021-2030 tầm nhìn đến năm 2050 của Ủy ban nhân dân tỉnh Bạc Liêu, 2022).
Ngành tôm tỉnh Bạc Liêu luôn nhận được sự quan tâm sâu sắc và được tạo điều kiện thuận lợi để phát triển. Là một trong các tỉnh phát triển mạnh nghề NTTS, và là vùng nuôi thủy sản có diện tích tôm nuôi lớn thứ hai của khu vực ĐBSCL. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số 694/QĐ-TTg ngày 24/5/2017 chon Bạc Liêu làm thủ phủ cho phát triển con tôm Việt Nam. Tuy nhiên cho đến nay, ngành tôm của Bạc Liêu vẫn còn gặp nhiều khó khăn và thách thức.
Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Bạc Liêu năm 2021, tổng diện tích đất NTTS tỉnh Bạc Liêu đạt 137.503 ha, trong đó diện tích nuôi tôm là 133.605 ha chiếm 97,2% tổng diện tích NTTS và 50,1% tổng diện tích tự nhiên của tỉnh. Tổng sản lượng NTTS của tinh đạt 283.710 tan, trong đó sản lượng nuôi tôm là 169.126 tan chiếm 59,6% tổng sản lượng NTTS cả tỉnh Bạc Liêu. Đến năm 2022, diện tích NTTS của tỉnh đạt 138.269 ha, trong đó diện tích nuôi tôm đạt 134. Diện tích đối với mô hình siêu thâm canh; thâm canh, bán thâm canh là 27.541 ha, quảng canh cải tiễn — kết hợp đạt 68.