CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của tôm hùm Tôm hùm là tên gọi chung của nhóm giáp xác 10 chân, có 4 họ Palinuridae, Scyllaridae, Nephropidae và Synaxidae. Tôm hùm xanh (tôm hùm đá) có tên tiếng anh là Scalloped spiny lobster, tên khoa học Panulirus homarus, Linnaeus 1758, thuộc họ tôm hùm gai (Palinuridae), phân bố khá rộng từ Tây Thái Bình Dương, Nam Phi, dọc bờ biển Đông Phi, biển đỏ, Nam Nhật Bản, đảo Solomon, Papua New Guinea, Australia, New Caledonia và Fiji. Chúng thường phân bố trong môi trường nước biển sạch có rạn san hô và di cư theo mùa.
Chu kỳ lột xác của các loài hay giữa các giai đoạn khác nhau của từng loài không giống nhau. Ở giai đoạn tôm con (chiều dài giáp đầu ngực CL = 20-30 mm), thời gian giữa hai lần lột xác của tôm hùm bông và tôm hùm đá khoảng 23-25 ngày. Còn ở giai đoạn tôm lớn (63-68 mm CL) thời gian giữa 2 lần lột xác tương ứng là khoảng 40 ngày và 50 ngày. Chiều dài giáp đầu ngực (CL) là chỉ số hình thái thể hiện sự sinh trưởng (tăng lên về kích thước) của tôm.
Căn cứ vào chỉ số này người ta dự đoán chu kỳ lột xác của tôm. Bên cạnh đó, có thể xác định độ tuổi thành thục và sức sinh sản của tôm hùm [11]. Do sống trong hệ sinh thái rạn san hô, nên yêu cầu về môi trường khá trong sạch và ổn định. Tôm hùm lột xác bình thường và đồng loạt, không bị mòn phần phụ, màu sắc tươi sáng, mạnh khỏe khi nuôi trong lồng đặt ở ao nuôi tôm sú, nơi có độ mặn 28 – 35‰, ô xy hòa tan 4,5-7,2 mg/l, độ đục khá cao, tính kiềm nhẹ [26].
Nhiệt độ phù hợp cho tôm hùm phát triển là 25-31oC, trong khi đó ở độ mặn 35‰[38][39]. Tôm hùm phát triển bình thường trong điều kiện tổng hàm lượng NH3 và NH4 (TAN) = 0,4 mg/l (Sumbing và cộng sự, 2016); NO2-N< 4,0 mg/l e 5 [36]. Hàm lượng TAN trong các hệ thống nuôi tôm hùm nên thấp hơn 2 mg/l đối với P. edwardsii còn nitrite nên thấp hơn 5 mg/l.
Điều kiện phù hợp nhất cho tôm hùm nuôi lồng phát triển là độ mặn từ 30 – 35‰; ô xy hòa tan (DO) từ 6,2 - 7,2 mg/l; pH từ 7,5 - 8,5; nhiệt độ từ 24 - 31oC [45]. Ánh sáng ảnh hưởng đến phát triển và chu kỳ lột xác ở tôm hùm. Ánh sáng mạnh ngăn quá trình lột xác và trong môi trường hoàn toàn tối ấu trùng có tăng trưởng tốt hơn ngoài ánh sáng [22]. Con giống và trưởng thành ở H.
americanus thường lột xác nhiều vào ban ngày [40]. Do tôm hùm kiếm thức ăn thiên về ban đêm nên việc chiếu sáng liên tục có thể ngăn chặn khả năng lấy thức ăn và ảnh hưởng bất lợi đến tăng trưởng, trong khi hoạt động quá nhiều khi bị kích thích bởi điều kiện tối ổn định có thể làm tiêu tốn năng lượng và tác động bất lợi đến tăng trưởng của tôm [15]. edwardsii trong điều kiện thí nghiệm thường lớn chậm hơn trong điều kiện chu kỳ chiếu sáng dài hơn hoặc chu kỳ tối dài hơn so với tôm nuôi trong điều kiện cân bằng chu kỳ sáng tối 12L-12D [18]. Tập tính ăn thịt đồng loại là vấn đề nghiêm trọng trong quá trình phát triển sớm của tôm hùm liên quan đến tần suất cho tôm ăn [27].
Theo Cortes- Jacinto và cộng sự (2003) cho ăn 4 đến 6 lần/ngày có thể tăng tỉ lệ sống của tôm càng Cherax quadricarinatus qua đó nâng cao tăng trưởng so với chỉ áp dụng số lần ăn trong ngày ít hơn[20]. Các kết quả nghiên cứu cho thấy tôm hùm là đối tượng có yêu cầu rất khắt khe về điều kiện môi trường nuôi, trong đó yêu cầu nước biển có tính ổn định, sạch và biên độ giao động hẹp, môi trường ánh sáng vừa đủ. Thức ăn tự nhiên của tôm hùm: Tôm hùm là đối tượng ăn tạp, thức ăn của chúng bao gồm các loại có nguồn gốc động vật và thực vật. Đối với giai đoạn ấu trùng trôi nổi, trong dạ dày tôm J.
adwardssi có các động vật phù du là chủ yếu và phân tích thành phần thức ăn này thu được 79 – 98% độ ẩm; 1,9 e 6 – 54% protein; 0,4-11,2% carbonhydrate; 0,1 – 27% lipid; 4 – 76% tro [43]. Khác với giai đoạn trôi nổi, ở giai đoạn con giống, trong dạ dày của tôm hùm gồm có các động vật đáy như chân bụng, hai mảnh vỏ, giun nhiều tơ, cầu gai, tảo biển [19]. Elner và Campbell (1987) phân tích thành phần thức ăn trong dạ dày của 1100 cá thể H. Americanus có kích thước chiều dài giáp đầu ngực từ 11-140 mm từ môi trường truyền thống và môi trường có nhiều rong biển, cầu gai sinh sống cho thấy phổ dinh dưỡng của tôm hùm là tương tự như nhau ở cả hai môi trường và các thành phần chiếm ưu thế là thực vật biển (rong nâu, rong xanh, rong đỏ), nhuyễn thể (hai mảnh vỏ và chân bụng), giáp xác, da gai và giun nhiều tơ[23].
Thức ăn tự nhiên như cá tươi, giáp xác và động vật thân mềm đã chứng tỏ là thích hợp cho việc nuôi tôm hùm gai giống trong điều kiện phòng thí nghiệm [21], [24]. Tuy nhiên, việc nuôi tôm hùm bằng thức ăn tươi khai thác tự nhiên không được chấp nhận ở một số quốc gia như Úc, do chất thải của thức ăn và sự phóng thích dưỡng chất vào môi trường sau đó. Những nghiên cứu thức ăn với P. cygnus cho thấy các loài này đều dễ tiếp nhận thức ăn viên khô, nhưng chúng có những ưu tiên đáng kể cho những thành phần nguyên liệu nhất định [46].
Tình hình nghiên cứu tôm hùm trên thế giới 1. Nghiên cứu về nuôi thương phẩm Nuôi tôm hùm thương phẩm trong lồng biển trên thế giới chưa phát triển như ở Việt Nam. Các mô hình nuôi bằng lồng biển đã được thử nghiệm ở một số quốc gia như Úc, Ấn Độ và Indonesia [31], [41]. Tại đây, tôm hùm được nuôi trong lồng theo mô hình của Việt Nam ngoài ra có kết hợp với một số đối tượng khác như cá mú hoặc rong biển.
Trong môi trường ao đất ở Úc, nuôi trong các lồng lưới có kích thước mắt lưới 2a=15 mm, hình chữ nhật kích thước lồng 1,8 x 1,8 x 0,9 m3 đặt trôi nổi nhờ hệ thống phao; che mát bằng tấm vải; cỡ tôm 750 g/con; mật độ thả 0,5 con/m2. Thức ăn viên kích cỡ e 7 7 mm được cho ăn 2 lần/ngày. Thức ăn được làm tại cơ sở bằng cách phối trộn 50% thức ăn dùng cho nuôi tôm sú, cá tươi, vẹm, chất kết dính và sắc tố; theo chế độ ăn khoảng 3% trong ngày. Ban đầu tôm biểu hiện các dấu hiệu đen đuôi, mòn bụng do lồng đặt sát đáy.
Khi kéo lồng lên mức cao hơn đã khắc phục tình trạng trên [28]và chất lượng sản phẩm tôm nuôi tương tự như tôm nuôi trong lồng biển ở Việt Nam [37]. Tôm hùm cũng đã được nghiên cứu nuôi thử nghiệm mô hình trong bể. Tôm hùm bông giống cỡ 3 g/con nuôi trong bể xi măng hình chữ nhật, sử dụng nước tuần hoàn ở các mật độ khác nhau (14; 29 và 43 con/m2). Sử dụng thức ăn chuyên dùng cho nuôi tôm sú theo chế độ 2 lần/ngày và có bổ sung thêm cá, tôm và nhuyễn thể, ở điều kiện độ mặn 35‰, nhiệt độ 27-31oC.
Sau 272 ngày nuôi cho thấy mật độ nuôi không ảnh hưởng đến sinh trưởng của tôm. Tại thời điểm thu hoạch tôm đạt 220 g/con; tỉ lệ sống 52% [28]. Tôm hùm bông P. ornatus cỡ 150 g/con được nuôi trong hệ thống tuần hoàn, sau 10 tháng nuôi tăng trọng đạt 160 g/con tương ứng cỡ tôm tôm đạt 310 g/con, tương đương với SGR= 0,125%; tỉ lệ sống sau 10 tháng nuôi đạt 80% [37].
Một thử nghiệm về nuôi tôm hùm xanh trong bể được thực hiện tại Mirat, 2010. Tôm được cho ăn bằng cá mòi cắt nhỏ, kết quả là nhìn chung tỷ lệ sống sót cao trong 6 tháng đầu nuôi (86,7%) và thấp trong những tháng tiếp theo. Cuối thí nghiệm, tỷ lệ chết của tôm là 48,9%. Môi trường được ghi nhận tại đây chưa tối ưu cho nuôi tôm hùm.
Độ mặn cao hơn 37,5 ppt, trong khi nhiệt độ nước <20 oC [16]. Như vậy, trên thế giới đã có nghiên cứu nuôi trong bể cho tôm hùm bông nhưng vẫn chưa hoàn thiện. Nghiên cứu về tôm hùm xanh còn rất ít. Đối với tôm hùm xanh, kết quả nghiên cứu bước đầu nuôi trong bể là sử dụng thức ăn tươi và môi trường nuôi chưa thực sự phù hợp.
Nghiên cứu về thức ăn e 8 Để sản xuất ra thức ăn công nghiệp hiệu quả, các nghiên cứu đã tập trung vào xác định đặc tính vật liệu, chất dẫn dụ, chất kết dính cũng như kết cấu viên thức ăn phù hợp với tôm hùm. Hiện nay trong thức ăn nuôi tôm hùm bông, loại chất kết dính đang được sử dụng là wheat gluten 8 – 10% [43]. Khởi đầu, các tác giả đã xây dựng công thức và sản xuất viên thức ăn công nghiệp nuôi tôm hùm cho tôm cỡ 700-1000 g/con [28] và tôm cỡ 2 g/con. Tuy nhiên, các sản phẩm thức ăn này chưa được thương mại rộng rãi do chưa thay thế hoàn toàn thức ăn tươi [44].
Tiếp theo đó viên thức ăn công nghiệp đã được phát triển cho tôm hùm cỡ 100-500 g/con. Cho đến nay nuôi tôm hùm quy mô thương mại, sản xuất hàng hóa vẫn sử dụng thức ăn tươi, chưa chấp nhận thức ăn công nghiệp. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 1. Nghiên cứu về nuôi thương phẩm 1.
Nuôi tôm hùm trong lồng Việt Nam là quốc gia phát triển nghề nuôi tôm hùm thương phẩm trong lồng ở biển sớm nhất, đạt sản lượng ước tính 1600-2000 tấn/năm, đem lại trên 3500 tỉ đồng mỗi năm [13]. Lồng thường có kích cỡ 3 x 3x 1,5 m3; 3 x 3,5 x 1,5 m3 hoặc 2 x 3 x 1,2m3; 3 x 2,5 x 1,2 m3. Khung bè nổi được làm bằng tre già hoặc bằng gỗ có đường kính từ 10 - 15 cm, chắc chắn, chịu được sóng gió và nước biển, chiều dài cây gỗ khoảng 4 - 6 m, được liên kết lại với nhau bằng đinh vít và dây thép có đường kính từ 3 - 5 mm tạo thành những ô lồng 3 x 5 m, thường thì mỗi bè có 6 - 10 ô lồng, tùy theo khả năng đầu tư của từng người nuôi. Các lồng được che nắng bằng các tấm che.
Đối với lồng nổi, các ô vuông khung nổi trên mặt nước nhờ các thùng phi và các khung này được e 9 gắn các túi lưới sâu 5-10 m. Bốn góc bè có neo để giữ cho bè luôn ở thế ổn định.