Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Cây ngô (Zea mays L.) là một trong ba cây ngũ cốc chủ lực của thế giới, giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo an ninh lương thực cho khoảng 8 tỷ người và cung cấp nguyên liệu chính cho ngành công nghiệp chăn nuôi. Trên bình diện quốc tế, 17% sản lượng ngô được sử dụng trực tiếp làm lương thực và 70% lượng tinh bột trong thức ăn chăn nuôi công nghiệp có nguồn gốc từ ngô. Tại Việt Nam, diện tích trồng ngô lai đã tăng trưởng từ dưới 1% năm 1991 lên xấp xỉ 95% vào năm 2013 với tổng diện tích 1.170,3 nghìn ha. Riêng tại khu vực Trung du và miền núi phía Bắc, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau lúa nước (năm 2013, diện tích ngô đạt 505,8 nghìn ha so với 688,8 nghìn ha lúa). Tuy nhiên, năng suất ngô trung bình của vùng này chỉ đạt 37,6 tạ/ha, thấp nhất so với các vùng sinh thái khác trên cả nước, do địa hình canh tác dốc, tập quán canh tác lạc hậu và phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nước tự nhiên.

Tại tỉnh Thái Nguyên, mặc dù diện tích ngô năm 2013 đã đạt 19 nghìn ha và năng suất đạt 42,6 tạ/ha, áp lực tăng vụ và phát triển ngô đông trên chân đất hai lúa đòi hỏi phải liên tục khảo nghiệm, tuyển chọn những giống ngô lai mới có thời gian sinh trưởng phù hợp, khả năng chống chịu điều kiện ngoại cảnh bất thuận và cho năng suất cao. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, đề tài "Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số tổ hợp ngô lai tại Thái Nguyên" được thực hiện.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là tuyển chọn được tổ hợp ngô lai có năng suất cao, khả năng chống chịu tốt và phù hợp với điều kiện sinh thái nông nghiệp của tỉnh Thái Nguyên. Để đạt được mục tiêu này, nghiên cứu đặt ra 4 nhiệm vụ/yêu cầu cụ thể theo văn bản:

  1. Theo dõi khả năng sinh trưởng, phát triển của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm.
  2. Theo dõi các đặc điểm hình thái của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm.
  3. Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh hại chính và khả năng chống đổ của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm.
  4. Đánh giá tiềm năng năng suất và các yếu tố cấu thành năng suất của các tổ hợp ngô lai thí nghiệm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Gồm 8 tổ hợp ngô lai mới do Viện Nghiên cứu Ngô lai tạo (ký hiệu từ B1 đến B8) và 01 giống ngô lai đối chứng DK9901 do Công ty Monsanto Việt Nam lai tạo (giống đối chứng có thời gian sinh trưởng trung bình, hạt bán răng ngựa, chịu hạn tốt, năng suất bình quân 55 - 60 tạ/ha).
  • Phạm vi không gian: Thí nghiệm đồng ruộng được triển khai tại phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên.
  • Phạm vi thời gian: Vụ Thu Đông năm 2014, theo dõi từ tháng 8/2014 đến tháng 12/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên lý thuyết về ưu thế lai (heterosis) ở cây ngô, kế thừa các công trình nghiên cứu về hiện tượng con lai vượt bố mẹ của Koelreute, Charles Darwin, Beal và Shull, cũng như các thành tựu tạo dòng tự phối, khai thác ưu thế lai đơn và lai kép của CIMMYT và Viện Nghiên cứu Ngô Việt Nam. Tiêu chuẩn kỹ thuật chủ đạo được áp dụng là Quy trình khảo nghiệm kỹ thuật canh tác ngô QCVN 01-56: 2011/BNNPTNT do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành. Chỉ số diện tích lá (LAI) được xác định trên cơ sở lý thuyết quang hợp cây trồng của Nichiporocic (khoảng tối ưu 2,5 - 5,0 m² lá/m² đất) kết hợp công thức thực nghiệm của Montgomery (1906).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm được thiết kế chi tiết như sau:

  • Bố trí thí nghiệm: Áp dụng phương pháp khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) gồm 9 công thức (8 tổ hợp lai B1 - B8 và giống đối chứng DK9901) với 3 lần nhắc lại. Diện tích một ô thí nghiệm là 5,6 m² (kích thước 4,0 m x 1,4 m). Mỗi ô gồm 4 hàng, khoảng cách hàng cách hàng 70 cm, cây cách cây 25 cm, tương ứng mật độ gieo trồng 5,7 vạn cây/ha. Xung quanh khu đồng ruộng thí nghiệm có bố trí các dải băng bảo vệ.
  • Quy trình kỹ thuật canh tác: Mức bón phân tính cho 1 ha gồm 2 tấn phân vi sinh + 150 kg N + 90 kg P₂O₅ + 90 kg K₂O. Bón lót toàn bộ phân vi sinh và phân lân supe. Bón thúc chia làm 2 đợt: lần 1 bón 1/2 lượng N và 1/2 lượng K₂O khi cây đạt 3 - 5 lá (kết hợp tỉa định cây và xới nhẹ); lần 2 bón lượng N và K₂O còn lại khi cây đạt 7 - 9 lá (kết hợp làm cỏ và vun cao chống đổ). Chế độ tưới nước duy trì độ ẩm đất 70 - 80% sức chứa ẩm tối đa ở 3 giai đoạn mẫn cảm: 6 - 7 lá, xoáy nõn (trước trỗ cờ 10 - 12 ngày) và sau thụ phấn - chín sữa.
  • Phương pháp theo dõi và thu thập dữ liệu: Các chỉ tiêu hình thái (chiều cao cây, chiều cao đóng bắp) đo trên 10 cây mẫu/ô sau khi phun râu 2 tuần; số lá xác định bằng phương pháp đánh dấu; diện tích lá tính theo công thức: $$\text{Diện tích lá (m}^2\text{)} = \text{Chiều dài} \times \text{Chiều rộng} \times 0{,}75$$ Số rễ chân kiềng và đường kính gốc đo sau trỗ 15 ngày. Khả năng chống chịu sâu bệnh (sâu đục thân Ostrinia nubilalis / Ostrinia furnacalis, bệnh gỉ sắt Puccinia maydis, bệnh thối thân do vi khuẩn Erwinia carotovora) được phân cấp theo thang điểm 1 - 5 hoặc tính tỷ lệ phần trăm cây nhiễm. Trạng thái cây, trạng thái bắp và độ che kín bắp đánh giá theo thang điểm chuẩn từ 1 đến 5. Độ ẩm hạt lúc thu hoạch ($A_0$) được xác định bằng máy đo độ ẩm điện tử Kett 400 (Nhật Bản), làm cơ sở quy đổi khối lượng 1000 hạt và năng suất thực thu về độ ẩm chuẩn 14%.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu thực nghiệm được tổng hợp bằng phần mềm Microsoft Excel và xử lý thống kê sinh học (phân tích phương sai ANOVA, kiểm định sai khác nhỏ nhất có ý nghĩa LSD ở mức xác suất $P = 0{,}05$ và hệ số biến động CV%) thông qua chương trình chuyên dụng IRRISTAT 5.0.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần mở đầu xác lập tầm quan trọng chiến lược của cây ngô trong cơ cấu cây lương thực thế giới và Việt Nam, chỉ huy động các số liệu thống kê chứng minh ngô là nguồn thức ăn tinh không thể thay thế trong chăn nuôi. Tác giả phân tích điểm nghẽn năng suất tại vùng Trung du và miền núi phía Bắc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng do ảnh hưởng của hạn hán và địa hình đồi núi dốc. Phần này cũng trình bày rõ mục tiêu nghiên cứu, 4 yêu cầu chuyên môn, cùng ý nghĩa khoa học (cung cấp luận cứ tuyển chọn giống ngô lai) và ý nghĩa thực tiễn (bổ sung giống mới vào cơ cấu sản xuất địa phương).

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa các tư liệu thứ cấp về lịch sử chọn giống và bức tranh sản xuất ngô:

  • Tình hình sản xuất thế giới và trong nước: Giai đoạn 1961 - 2013, năng suất ngô thế giới tăng từ 19,4 tạ/ha lên 55,1 tạ/ha, sản lượng đạt 1.016,4 triệu tấn. Châu Mỹ dẫn đầu về diện tích (70,8 triệu ha) và sản lượng (523 triệu tấn năm 2013). Tại Việt Nam, năng suất ngô tăng từ 10,42 tạ/ha (năm 1975) lên 44,3 tạ/ha (năm 2013) với sản lượng 5.193,5 nghìn tấn. Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam Bộ có năng suất cao nhất (lần lượt 56,1 tạ/ha và 57,6 tạ/ha), trong khi Trung du và miền núi phía Bắc thấp nhất (37,6 tạ/ha). Tại Thái Nguyên, diện tích đạt đỉnh năm 2008 với 20,6 nghìn ha và năng suất đạt 42,6 tạ/ha vào năm 2013.
  • Tiến trình chọn tạo giống ngô: Tổng kết các mốc phát hiện ưu thế lai, vai trò của trung tâm giống quốc tế CIMMYT trong việc phát triển ngô giàu protein (QPM với Tryptophan 0,11%, Lysine 0,475%), ứng dụng công nghệ nuôi cấy bao phấn tạo dòng đơn bội kép và giống ngô chuyển gen Bt kháng sâu hại. Phân tích 3 giai đoạn chọn tạo giống tại Việt Nam: trước 1990 (tập trung giống thụ phấn tự do như MSB 49, TSB2), giai đoạn 1990 - 1995 (phát triển giống lai không quy ước LS6, LS8) và từ 1995 đến nay (làm chủ công nghệ lai quy ước, công nhận các giống lai đơn ngắn ngày và trung ngày như LVN10, LVN99, LVN145, VN8960).

Phần 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày chi tiết vật liệu nghiên cứu gồm 8 tổ hợp lai B1 - B8 và giống đối chứng DK9901. Mô tả sơ đồ bố trí ô thí nghiệm ngẫu nhiên RCBD 3 lần nhắc lại tại phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên. Chi tiết hóa phương pháp điều tra, công thức toán học tính toán diện tích lá Montgomery, phương pháp sấy cân hạt xác định tỷ lệ hạt/bắp, đo độ ẩm hạt bằng máy Kett 400 và công thức tính năng suất lý thuyết (NSLT), năng suất thực thu (NSTT) ở độ ẩm chuẩn 14%. Đồng thời, quy định cụ thể định mức phân bón, lịch trình vun xới, tưới ẩm đồng ruộng và các thuật toán xử lý dữ liệu thống kê trên IRRISTAT 5.0.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Đây là chương nội dung thực nghiệm trọng tâm, phân tích diễn biến sinh trưởng và năng suất của 8 tổ hợp lai trong điều kiện khí hậu cụ thể của vụ Thu Đông 2014:

  • Diễn biến thời tiết: Nhiệt độ trung bình giảm dần từ tháng 8 (28,3°C) xuống tháng 12 (16,5°C); tổng lượng mưa giảm mạnh từ 329,5 mm (tháng 8) xuống còn 12,2 mm (tháng 12), tạo áp lực khô hạn và nhiệt độ thấp ở giai đoạn chín.
  • Thời gian sinh trưởng và phát dục: Thời gian từ gieo đến tung phấn dao động từ 51 đến 53 ngày; từ gieo đến phun râu từ 50 đến 52 ngày. Khoảng cách tung phấn - phun râu ngắn (1 - 2 ngày), thậm chí các tổ hợp B1, B7 có hiện tượng phun râu đồng thời hoặc trước tung phấn (50 ngày phun râu so với 51 ngày tung phấn), tạo thuận lợi lớn cho thụ phấn thụ tinh. Toàn bộ các tổ hợp đều có tổng thời gian sinh trưởng 113 - 120 ngày, thuộc nhóm giống chín trung ngày tương tự đối chứng DK9901 (116 ngày).
  • Đặc điểm hình thái và sinh lý: Chiều cao cây biến động từ 195,6 cm (B5) đến 228,5 cm (B4); chiều cao đóng bắp dao động 93,9 cm (B7) đến 114,2 cm (B4). Tỷ lệ chiều cao đóng bắp/chiều cao cây của các tổ hợp đạt từ 42,6% đến 51,5% (nằm trong ngưỡng tối ưu khoảng 50%, giúp cây cân đối và chống đổ gãy). Số lá trên cây không có sự sai khác có ý nghĩa thống kê ($P > 0{,}05$), dao động 17,93 - 20,37 lá/cây. Chỉ số diện tích lá (LAI) dao động 2,8 - 3,5 m² lá/m² đất, trong đó tổ hợp B6 đạt cao nhất (3,5 m²/m²). Về khả năng chống đổ, số rễ chân kiềng đạt từ 14,9 đến 26,2 rễ/cây (B4 nhiều nhất với 26,2 rễ; B3 đạt 25,3 rễ, cao hơn đối chứng DK9901 có 17,6 rễ); đường kính gốc dao động 1,4 - 1,9 cm.
  • Khả năng chống chịu sâu bệnh và trạng thái cây/bắp: Sâu đục thân phát sinh ở tất cả các tổ hợp ở mức điểm 4 và 5; trong đó B2, B5, B8 và đối chứng DK9901 bị nhiễm nặng (điểm 5, tỷ lệ hại >35%). Bệnh gỉ sắt ở mức điểm 1 - 4, trong đó B5 và B6 kháng tốt nhất (điểm 1). Bệnh thối thân xuất hiện ở tỷ lệ thấp từ 0% đến 4,3% (B2 và B7 không bị nhiễm bệnh, đạt 0%). Về hình thái ngoài đồng, trạng thái cây đạt điểm 2 - 3; trạng thái bắp điểm 2 - 4 (tổ hợp B2 kém nhất với điểm 4); độ che phủ của lá bi quanh bắp ở tất cả các tổ hợp đều đạt điểm 2 (lá bi kín đầu bắp).
  • Năng suất và các yếu tố cấu thành: Chiều dài bắp dao động 14,87 - 18,02 cm (B7 dài nhất với 18,02 cm); đường kính bắp dao động 3,87 - 4,58 cm (B3 lớn nhất với 4,58 cm); số hàng hạt/bắp đạt 12,40 - 15,27 hàng (B2 nhiều hàng nhất đạt 15,27 hàng); số hạt/hàng đạt 32,77 - 36,30 hạt (không sai khác có ý nghĩa thống kê giữa các tổ hợp). Khối lượng 1000 hạt biến động rất lớn từ 197,36 g đến 414,29 g (B3 đạt cao nhất 414,29 g, vượt đối chứng 110,85 g; B2 thấp nhất 197,36 g). Năng suất lý thuyết đạt 58,1 - 98,8 tạ/ha. Năng suất thực thu đạt từ 48,45 đến 79,79 tạ/ha.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Đưa ra kết luận tổng hợp về đặc tính sinh trưởng của các tổ hợp lai trong vụ Thu Đông, khẳng định sự vượt trội về năng suất của 5 tổ hợp (B1, B3, B4, B5, B7) so với đối chứng DK9901 ở mức ý nghĩa $P < 0{,}05$. Đề xuất tiếp tục mở rộng khảo nghiệm qua các vụ tiếp theo và tại các tiểu vùng sinh thái khác của Thái Nguyên để chọn giống chính thức đưa vào sản xuất.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã thu thập và xử lý toàn diện hệ thống số liệu thực nghiệm về hình thái, khả năng chống chịu và năng suất của 8 tổ hợp ngô lai mới so với đối chứng DK9901 trong vụ Thu Đông 2014. Bảng tổng hợp dưới đây phản ánh các chỉ tiêu nông sinh học và năng suất chủ yếu được trích xuất từ văn bản:

Tổ hợp lai TGST (ngày) Chiều cao cây (cm) Chiều cao đóng bắp (cm) Rễ chân kiềng (rễ/cây) Sâu đục thân (điểm 1-5) Bệnh gỉ sắt (điểm 1-5) KL 1000 hạt (g) NSLT (tạ/ha) NSTT (tạ/ha) Sai khác NSTT so với Đ/C
B1 115 214,5 107,5 19,2 4 3 336,22 87,7 78,83 Cao hơn
B2 113 213,9 109,0 23,8 5 3 197,36 58,1 48,45 Thấp hơn
B3 116 227,2 97,0 25,3 4 3 414,29 98,8 79,79 Cao hơn
B4 114 228,5 114,2 26,2 4 4 349,63 81,4 69,84 Cao hơn
B5 117 195,6 97,6 24,0 5 1 341,46 87,9 70,34 Cao hơn
B6 120 218,5 112,4 14,9 4 1 340,90 82,7 62,74 Tương đương
B7 115 198,1 93,9 19,4 4 3 286,80 78,1 71,41 Cao hơn
B8 118 213,8 105,6 17,3 5 3 281,70 78,4 62,15 Tương đương
DK9901 (đ/c) 116 210,1 108,6 17,6 5 4 303,44 92,3 63,60 -
LSD₀.₀₅ - 11,6 6,6 4,7 - - 65,82 11,6 5,87 -
CV (%) - 4,4 3,6 12,9 - - 12,0 14,8 10,8 -

Các kết quả định lượng cụ thể gồm:

  • Tuyển chọn được 5 tổ hợp ngô lai có năng suất thực thu đạt từ 69,84 tạ/ha đến 79,79 tạ/ha, cao hơn giống đối chứng DK9901 (63,60 tạ/ha) có ý nghĩa thống kê ở mức xác suất sai số $P < 0{,}05$. Trong đó, tổ hợp B3 đạt năng suất thực thu cao nhất (79,79 tạ/ha) nhờ ưu thế vượt trội về khối lượng 1000 hạt (414,29 g) và đường kính bắp (4,58 cm). Tổ hợp B1 đạt năng suất cao thứ hai (78,83 tạ/ha) với số hạt/hàng cao nhất (36,30 hạt).
  • Xác định được đặc tính chống chịu sâu bệnh: Tổ hợp B7 có khả năng chống chịu bệnh tổng hợp tốt nhất (tỷ lệ bệnh thối thân 0%, sâu đục thân điểm 4, gỉ sắt điểm 3, chiều dài bắp đạt cao nhất 18,02 cm, NSTT đạt 71,41 tạ/ha). Tổ hợp B5 và B6 thể hiện tính kháng vượt trội đối với bệnh gỉ sắt (điểm 1).
  • Chỉ ra tổ hợp kém triển vọng nhất là B2 với năng suất thực thu chỉ đạt 48,45 tạ/ha (thấp hơn đối chứng 15,15 tạ/ha), hạt nhỏ (khối lượng 1000 hạt chỉ đạt 197,36 g), nhiễm nặng sâu đục thân (điểm 5) và trạng thái bắp xấu (điểm 4).

Về mặt đóng góp khoa học và thực tiễn, nghiên cứu đã cung cấp bộ dẫn liệu thực nghiệm khách quan về các chỉ tiêu nông học của các tổ hợp ngô lai mới do Viện Nghiên cứu Ngô lai tạo khi gieo trồng trong vụ Thu Đông tại vùng đất Thái Nguyên. Kết quả này là căn cứ thực tế để các cơ quan chuyên môn định hướng bổ sung các giống ngô triển vọng vào cơ cấu cây trồng, thay thế các giống cũ nhằm nâng cao sản lượng ngô địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn nghiên cứu được chỉ ra từ chính văn bản và phạm vi thực nghiệm:

  • Hạn chế: Thí nghiệm mới chỉ được tiến hành trong phạm vi một vụ duy nhất (vụ Thu Đông năm 2014) và trên một địa bàn cụ thể (phường Quang Vinh, thành phố Thái Nguyên). Do đó, các kết quả đánh giá về tính ổn định năng suất và khả năng thích ứng chưa phản ánh đầy đủ tác động qua lại giữa kiểu gen và môi trường qua nhiều mùa vụ hoặc trên các loại đất khác nhau (như đất đồi dốc, nương rẫy thiếu nước). Ngoài ra, mức độ nhiễm sâu đục thân ở toàn bộ các công thức thí nghiệm đều ở mức cao (điểm 4 - 5), phản ánh áp lực sâu bệnh lớn trong vụ Thu Đông chưa được khống chế triệt để bằng biện pháp kỹ thuật.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục bố trí thí nghiệm khảo nghiệm các tổ hợp lai triển vọng (đặc biệt là B1, B3, B7) trong các vụ tiếp theo (như vụ Xuân, vụ Hè Thu) và mở rộng phạm vi khảo nghiệm tại các vùng sinh thái nông nghiệp khác nhau của tỉnh Thái Nguyên nhằm đánh giá độ ổn định di truyền trước khi đưa vào sản xuất đại trà.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Khoa học cây trồng, Nông học và Chọn giống cây trồng: Cung cấp phương pháp mẫu chuẩn về bố trí thí nghiệm đồng ruộng theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh (RCBD) đối với cây ngũ cốc; quy trình lấy chỉ tiêu hình thái, tính toán chỉ số diện tích lá (LAI) theo công thức Montgomery và kỹ thuật phân tích phương sai bằng phần mềm IRRISTAT 5.0.
  • Cán bộ khuyến nông và nghiên cứu cây lương thực: Cung cấp dữ liệu tham khảo về định mức phân bón (2 tấn phân vi sinh + 150N + 90P₂O₅ + 90K₂O/ha), các thời điểm tưới ẩm xung yếu và quy luật phát sinh sâu đục thân, bệnh gỉ sắt trên ngô lai vụ Thu Đông tại vùng Trung du miền núi phía Bắc.
  • Người làm đề tài khảo nghiệm giống: Cung cấp bảng dữ liệu đối sánh chi tiết về các tương quan giữa chiều cao cây/chiều cao đóng bắp (ngưỡng 42 - 51%), khoảng cách tung phấn - phun râu và vai trò của khối lượng 1000 hạt đối với năng suất thực thu.

Câu hỏi thường gặp

1. Tổ hợp ngô lai nào đạt năng suất thực thu cao nhất trong thí nghiệm và nhờ những yếu tố cấu thành nào?
Tổ hợp B3 đạt năng suất thực thu cao nhất với 79,79 tạ/ha (năng suất lý thuyết đạt 98,8 tạ/ha), vượt giống đối chứng DK9901 (63,60 tạ/ha) ở mức ý nghĩa $P < 0{,}05$. Năng suất này đạt được chủ yếu nhờ khối lượng 1000 hạt vượt trội (đạt 414,29 g, cao hơn đối chứng 110,85 g) và đường kính bắp lớn nhất trong các tổ hợp thí nghiệm (4,58 cm).

2. Giống ngô lai đối chứng DK9901 thể hiện các đặc tính sinh trưởng và năng suất ra sao trong vụ Thu Đông 2014?
Giống đối chứng DK9901 có thời gian sinh trưởng 116 ngày, chiều cao cây 210,1 cm, chiều cao đóng bắp 108,6 cm (tỷ lệ đóng bắp 51,7%), số lá đạt 21,7 lá/cây, chỉ số diện tích lá 3,0 m²/m², số rễ chân kiềng đạt 17,6 rễ/cây. Về năng suất, DK9901 có chiều dài bắp 17,30 cm, đường kính bắp 4,20 cm, khối lượng 1000 hạt 303,44 g, năng suất lý thuyết đạt 92,3 tạ/ha và năng suất thực thu đạt 63,60 tạ/ha. Giống này bị sâu đục thân hại nặng (điểm 5) và bệnh gỉ sắt ở điểm 4.

3. Khả năng chống chịu sâu bệnh của các tổ hợp lai được ghi nhận như thế nào, tổ hợp nào tốt nhất và kém nhất?
Áp lực sâu đục thân trong vụ Thu Đông 2014 khá nặng, các tổ hợp đều bị nhiễm ở mức điểm 4 - 5 (B2, B5, B8 và đối chứng đạt điểm 5 với tỷ lệ hại >35%). Bệnh gỉ sắt hại ở mức điểm 1 - 4 (B5, B6 kháng tốt nhất với điểm 1). Bệnh thối thân xuất hiện thấp (0 - 4,3%). Tổ hợp thể hiện tính chống chịu tổng hợp tốt nhất là B7 (thối thân 0%, gỉ sắt điểm 3, sâu đục thân điểm 4, bắp dài nhất 18,02 cm và NSTT đạt 71,41 tạ/ha). Tổ hợp kém nhất là B2 khi bị sâu đục thân hại nặng (điểm 5), trạng thái bắp kém nhất (điểm 4) và năng suất thực thu thấp nhất (48,45 tạ/ha).

4. Quy trình kỹ thuật phân bón được áp dụng trong mô hình thí nghiệm gồm những loại nào và thời gian bón ra sao?
Định mức bón cho 1 ha gồm 2 tấn phân vi sinh + 150 kg N + 90 kg P₂O₅ + 90 kg K₂O. Phương pháp bón: bón lót toàn bộ 100% phân vi sinh kết hợp 100% phân lân supe; bón thúc lần 1 khi cây có 3 - 5 lá (bón 1/2 lượng N và 1/2 lượng K₂O kết hợp xới nhẹ và tỉa cây); bón thúc lần 2 khi cây đạt 7 - 9 lá (bón hết lượng N và K₂O còn lại kết hợp làm cỏ và vun gốc cao chống đổ).

5. Hiện tượng tung phấn và phun râu của các tổ hợp ngô lai trong thí nghiệm diễn ra như thế nào?
Thời gian từ gieo đến tung phấn của các tổ hợp biến động từ 51 đến 53 ngày, thời gian từ gieo đến phun râu từ 50 đến 52 ngày. Khoảng cách giữa tung phấn và phun râu rất ngắn (chỉ 1 - 2 ngày), thuận lợi cho quá trình thụ tinh tạo hạt. Đáng chú ý, các tổ hợp B1 và B7 có hiện tượng phun râu sớm hơn tung phấn 1 ngày (phun râu ở ngày thứ 50, tung phấn ngày thứ 51), đây là đặc điểm sinh lý có lợi cho quá trình tạo hạt trong điều kiện hạn vụ Thu Đông.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Thị Trang đã thực hiện đầy đủ quy trình khảo nghiệm đồng ruộng đối với 8 tổ hợp ngô lai mới và giống đối chứng DK9901 tại thành phố Thái Nguyên trong vụ Thu Đông 2014 theo đúng tiêu chuẩn kỹ thuật ngành trồng trọt. Nghiên cứu đã xác định toàn bộ các tổ hợp đều thuộc nhóm thời gian sinh trưởng trung bình (113 - 120 ngày), sinh trưởng thuận lợi và có độ bao bắp kín. Kết quả thực nghiệm đã sàng lọc được 5 tổ hợp lai (B1, B3, B4, B5, B7) đạt năng suất thực thu từ 69,84 đến 79,79 tạ/ha, vượt trội so với giống đối chứng ở mức tin cậy 95%, trong đó B3 và B1 là những tổ hợp có triển vọng cao nhất cần tiếp tục được khảo nghiệm mở rộng.