Khóa Luận Tốt Nghiệp: Nghiên Cứu Sinh Trưởng Của Đậu Xanh Trong Điều Kiện Lạnh Nhân Tạo

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu sinh trưởng của đậu xanh trong điều kiện lạnh nhân tạo, phân tích ảnh hưởng nhiệt độ thấp đến quá trình phát triển cây trồng.

Chuyên ngành

Khoa học cây trồng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2021

74
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. MỤC LỤC

1.1. LỜI CẢM ƠN

1.2. DANH MỤC BẢNG

1.3. DANH MỤC HÌNH

1.4. DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1.5. TÓM TẮT KHÓA LUẬN

1.5.1. Mục đích và yêu cầu

1.6. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.6.1. Nguồn gốc phân loại

1.6.2. Nghiên cứu và phát triển cây đậu xanh trên thế giới và Việt Nam

1.6.2.1. Nghiên cứu và phát triển đậu xanh trên thế giới
1.6.2.2. Nghiên cứu và phát triển đậu xanh ở Việt Nam

1.6.3. Đặc điểm sinh vật học của cây đậu xanh

1.6.4. Yêu cầu ngoại cảnh của đậu xanh

1.6.5. Nghiên cứu khả năng chống lạnh của cây trồng nói chung và cây đậu xanh nói riêng

1.6.6. Cơ chế chịu lạnh ở thực vật. Nghiên cứu về khả năng chịu lạnh trên cây đậu đỗ

1.7. VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.7.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

1.7.2. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

1.7.3. Nội dung và phương pháp nghiên cứu

1.7.3.1. Nội dung nghiên cứu
1.7.3.2. Phương pháp nghiên cứu

1.8. PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

1.8.1. Ảnh hưởng của lạnh đến các chỉ tiêu sinh trưởng của các giống đậu xanh

1.8.2. Ảnh hưởng của lạnh đến chiều cao thân chính của các giống đậu xanh

1.8.3. Ảnh hưởng của lạnh đến số lá thật của các giống đậu xanh

1.8.4. Ảnh hưởng của lạnh đến đường kính thân của các giống đậu xanh

1.8.5. Ảnh hưởng của lạnh đến diện tích lá của các giống đậu xanh

1.8.6. Ảnh hưởng của lạnh đến chỉ số diệp lục ở lá (SPAD) của các giống đậu xanh

1.8.7. Ảnh hưởng của lạnh đến chỉ số huỳnh quang diệp lục (Fv/Fm) của các giống đậu xanh

1.8.8. Ảnh hưởng của lạnh đến khả năng tích lũy của các giống đậu xanh

1.8.9. Ảnh hưởng của lạnh đến khối lượng tươi

1.8.10. Ảnh hưởng của lạnh đến khối lượng khô

1.8.11. Đánh giá khả năng chịu lạnh của các giống đậu xanh

1.9. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu và mục đích nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp 'Nghiên cứu sinh trưởng của đậu xanh trong điều kiện lạnh nhân tạo' tập trung vào việc đánh giá ảnh hưởng của điều kiện lạnh nhân tạo đến sinh trưởngtăng trưởng thực vật của cây đậu xanh. Mục đích chính là xác định các giống đậu xanh có khả năng chịu lạnh, nhằm phục vụ cho việc chọn tạo giống và mở rộng sản xuất đậu xanh trong vụ đông. Nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc cải thiện năng suất và chất lượng cây trồng trong điều kiện khí hậu khắc nghiệt.

1.1. Mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của điều kiện lạnh nhân tạo đến các chỉ tiêu sinh trưởng như chiều cao, số lá, đường kính thân, và diện tích lá của cây đậu xanh. Đồng thời, xác định các chỉ tiêu sinh lý như chỉ số SPAD và huỳnh quang diệp lục (Fv/Fm) để đánh giá khả năng chịu lạnh của các giống đậu xanh.

II. Tổng quan tài liệu và cơ sở lý thuyết

Phần tổng quan tài liệu đề cập đến nguồn gốcphân loại của cây đậu xanh, cũng như các nghiên cứu về kỹ thuật trồng trọtkhả năng chịu lạnh của cây trồng. Đậu xanh có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Á, được trồng phổ biến ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng điều kiện môi trường lạnh có thể ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởng và năng suất của cây đậu xanh.

2.1. Nghiên cứu về khả năng chịu lạnh

Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng điều kiện lạnh có thể làm giảm sinh trưởng và tích lũy chất khô của cây đậu xanh. Cơ chế chịu lạnh ở thực vật liên quan đến sự điều chỉnh các quá trình sinh lý và trao đổi chất. Nghiên cứu này tập trung vào việc đánh giá khả năng phục hồi của các giống đậu xanh sau khi tiếp xúc với điều kiện lạnh nhân tạo.

III. Phương pháp nghiên cứu và thí nghiệm

Nghiên cứu được thực hiện trong phòng thí nghiệm với hệ thống điều chỉnh nhiệt độ và ánh sáng nhân tạo. Các thí nghiệm được thiết kế để đánh giá ảnh hưởng của điều kiện lạnh nhân tạo đến các chỉ tiêu sinh trưởngsinh lý của cây đậu xanh. Phương pháp nghiên cứu bao gồm đo đạc chiều cao, số lá, đường kính thân, diện tích lá, và các chỉ số sinh lý như SPAD và Fv/Fm.

3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng các giống đậu xanh khác nhau để đánh giá khả năng chịu lạnh. Các giống được chọn dựa trên tiêu chí về sinh trưởng và khả năng thích ứng với điều kiện môi trường khắc nghiệt.

IV. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu cho thấy điều kiện lạnh nhân tạo ức chế sinh trưởng của cây đậu xanh, làm giảm chiều cao, số lá, và khối lượng tươi. Tuy nhiên, một số giống như V123, D1, và HL10 có khả năng phục hồi tốt sau khi tiếp xúc với lạnh. Các chỉ số sinh lý như SPAD và Fv/Fm cũng bị ảnh hưởng đáng kể, nhưng các giống có khả năng chịu lạnh cao hơn cho thấy sự suy giảm ít hơn.

4.1. Đánh giá khả năng chịu lạnh

Nghiên cứu đã xác định được các giống đậu xanh có khả năng chịu lạnh cao, như V123 với tỷ lệ phục hồi 100% và mức độ suy giảm chất khô thấp nhất (15,88%). Những giống này có tiềm năng được sử dụng trong chọn tạo giống chịu lạnh, đặc biệt là trong vụ đông.

V. Kết luận và đề xuất

Nghiên cứu kết luận rằng điều kiện lạnh nhân tạo có ảnh hưởng tiêu cực đến sinh trưởngsinh lý của cây đậu xanh. Tuy nhiên, một số giống có khả năng chịu lạnh cao có thể được sử dụng để phát triển giống đậu xanh thích ứng với khí hậu lạnh. Đề xuất tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về cơ chế chịu lạnh và ứng dụng các kỹ thuật trồng trọt tiên tiến để nâng cao năng suất đậu xanh trong điều kiện khắc nghiệt.

5.1. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được ứng dụng trong việc chọn tạo giống đậu xanh chịu lạnh, giúp mở rộng diện tích trồng đậu xanh trong vụ đông. Điều này không chỉ cải thiện năng suất mà còn góp phần tăng hiệu quả kinh tế cho nông dân.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Ở Việt Nam cây Đậu xanh (Vigna radiata (L.) Wilczek) là một trong ba cây đậu đỗ chính trong nhóm các cây đậu ăn hạt, đứng sau đậu tương và lạc. Ngoài ra, nó còn là một trong những mặt hàng xuất khẩu. Đậu xanh cũng chính là cây trồng có vị trí quan trọng trong nền nông nghiệp của nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Trồng đậu xanh không những cung cấp nguồn thực phẩm giàu đạm, đáp ứng nhu cầu về dinh dưỡng của con người và vật nuôi, mà còn có tác dụng cải tạo và bồi dưỡng đất do rễ của cây đậu xanh có các nốt sần chứa một số loài vi sinh vật cố định đạm sống cộng sinh.

Quả và lá non đậu xanh còn được dùng như một loại rau xanh cao cấp rất giàu khoáng chất và vitamin (Riaz Ullah et al. Hạt đậu xanh dùng làm thuốc: chữa nóng sốt, say nắng, chữa viêm đường ruột, chữa ronan thần kinh, chữa quai bị, làm đẹp cho phụ nữ. Đậu xanh là một loại thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao trong thực đơn ăn uống của người Việt Nam (nấu chè, nấu cháo, bánh, đồ xôi,…) cũng như các nước trên thế giới. Đậu xanh được đánh giá là một trong những loại đậu đỗ thực phẩm rất giàu hydrat cacbon, với hàm lượng trung bình là 40 – 47%.

Hàm lượng các chất dinh dưỡng trong bột đậu xanh được tinh chế tăng lên một cách đáng kể. Bột tinh chế có hàm lượng chất dinh dưỡng là: protein 60%, dầu 1. Các chất khoáng như Na, K, Mg trong bột tinh chế cũng tăng lên rõ rệt so với dạng bột tự nhiên ban đầu của hạt đậu xanh. Protein đậu xanh chiếm đầy đủ các loại axit amin.

Đậu xanh là cây có ngồn gốc nhiệt đới. Yêu cầu của đậu xanh đối với chế độ nhiệt tương đối cao. Nhiệt độ thích hợp ở tất cả các thời kỳ đậu xanh sinh trưởng, phát triển và cho năng suất khoảng 25 – 30 °C. Nói chung, trong thời kỳ sinh trưởng, nhất là từ sau ra hoa, nhiệt độ phải luôn đảm bảo trên 250 C tốt nhất là khoảng 28 – 32 °C.

Đậu xanh chịu nóng tương đối tốt. Nhiệt độ 38 – 40oC không có ảnh hưởngđáng kể tới khả năng thụ phấn, thụ tinh của hoa và khả năng phát triển củ quả đối với một số giống cải tiến. Tuy nhiên, nhiệt độ thấp, kéo dài sinh trưởng và làm giảm chất khô tích lũy, giảm số hoa, số quả sẫn đến làm giảm năng suất. Nhiệt độ trung bình ngày là yếu tố chủ yếu chi phối thời gian sinh trưởng của đậu xanh.

Ở các tỉnh phía Bắc nước ta, trong vụ xuân, nhiệt độ thấp ở đầu vụ là nguyên nhân hạn chế năng suất đậu xanh, nhất là đối với đậu trồng sớm hoặc những năm rét muộn. Ở vùng đồng bằng Bắc bộ, sau khi thu hoạch hai vụ lúa nông dân ở nhiều địa phương tiến hành trồng cây hoa màu vụ đông, nhưng hiệu quả kinh tế chưa cao và tiềm năng đất đai còn rất lớn. Vì vậy nếu đưa được các giống đậu xanh có khả năng chịu lạnh trồng có thể sẽ giúp mở rộng diện tích và nâng cao hiệu quả sử dụng đất vụ Đông. Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đó, chúng tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu sinh trưởng một số giống đậu xanh ở giai đoạn cây con trong điều kiện lạnh nhân tạo” nhằm tuyển chọn nhanh những giống đậu xanh thích hợp trồng vụ Đông tại miền Bắc, Việt Nam.

Mục đích và yêu cầu 1. Mục đích Xác định ảnh hưởng của lạnh đến sinh trưởng của cây đậu xanh, nhằm phục vụ chọn tạo giống đậu xanh chịu lạnh có khả năng chịu lạnh để phát triển mở rộng sản xuất đậu xanh vụ Đông.2 Yêu cầu - Đánh giá ảnh hưởng của lạnh đến các chỉ tiêu sinh trưởng của các giống đậu xanh - Xác định một số chỉ tiêu sinh lý có thể sử dụng để đánh giá khả năng chịu lạnh của đậu xanh 2 PHẦN II. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Nguồn gốc phân loại 2.

Nguồn gốc Đậu xanh có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Á , phân bổ chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, là cây trồng khá quen thuộc ở Châu Á và rất phổ biến ở nước ta. Cây đậu xanh có khả năng thích ứng rộng, chịu hạn khá và có thể thích nghi với các vùng có điều kiện khắc nghiệt. Khu vực Đông và Nam Châu Á, cây đậu xanh được trồng nhiều ở các quốc gia như: Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepal Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Miến Điện, Inđônexia; hiện nay đã được phát triển tại một số quốc gia ở vùng ôn đới, ở Châu Úc, lục địa Châu Mỹ. Ở Việt Nam cho đến nay vẫn chưa đủ cơ sở để xác định nguồn gốc và thời gian đậu xanh được gieo trồng và sử dụng ở nước ta.

Tuy nhiên, qua các hoạt động văn hóa của nhân dân ta đã thấy đậu xanh được trồng ở nước ta từ lâu đời. Điều đó, được chứng minh qua các món ăn truyền thống của người Việt Nam như trong nhân bánh, đồ xôi có sự tham gia của đậu xanh, ngoài ra đậu xanh còn được dùng làm thuốc chữa bệnh. Theo Lê Quý Đôn viết trong "Vân đài loại ngữ", ông cho rằng cây đậu xanh được trồng ở nước ta từ lâu đời, ngoài mục đích làm thực phẩm, làm thuốc còn có ý nghĩa quan trọng trong cải tạo đất, chống xói mòn và dùng làm phân xanh có giá trị cao (Trần Đình Long và Lê Khả Tường, 1998). Phân loại Trong Hệ thống Cronquist năm 1981 và một số hệ thống phân loại thực vật khác, bộ Đậu (Fabales) chỉ chứa mỗi họ Đậu (Fabaceae).

Trong Hệ thống phân loại APG II (Angiosperm Phylogeny Group II) (2003): + Bộ đậu (Fabales) bao gồm 4 họ là: 3 - Họ đậu (Fabaceae) gồm 4 Phân họ. - Họ Viển chí (Polygalaceae) gồm 4 Phân họ. - Họ Suyên biến (Surianaceae) gồm 1 Phân họ. - Họ Quillajaceae + Họ đậu (Fabaceae) gồm 4 Phân họ, đây là họ lớn thứ ba sau họ Phong lan và họ Cúc, với khoảng 730 chi và 19.

+ Phân họ Đậu (Faboideae) với 31 Tông, trên 400 chi và hàng ngàn loài. Tên Latin của chi này được đặt theo tên của Domenico Vigna, nhà thực vật học người Ý ở thế kỉ 17. + Cây đậu xanh (Vigna radiata) được trồng trên thế giới gồm có 3 Thứ (Phân loài): V. Nghiên cứu và phát triển cây đậu xanh trên thế giới và Việt Nam 2.

Nghiên cứu và phát triển đậu xanh trên thế giới Đậu xanh có nguồn gốc từ Ấn Độ và Trung Á, phân bố chủ yếu ở các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới, là cây trồng khá quen thuộc ở Châu Á và rất phổ biến ở nước ta. Cây đậu xanh có khả năng thích ứng rộng, chịu hạn khá và có thể thích nghi với cacsvungf có điều kiện khắc nghiệt. Khu vực Đông và Nam Á, cây đậu xanh được trồng nhiều ở câc quốc gia như:Ấn Độ, Pakistan, Bangladesh, Sri Lanka, Nepanl, Trung Quốc, Thái Lan, Philippin, Malayxia, Indonexia; hiện nay đã được phát triển ở một số quốc gia vùng ôn đới như Châu Úc, lục địa Châu Mỹ. Trung tâm nghiên cứu và phát triển rau quả Châu Âu AVRDC đã có tập đoàn giống đậu xanh lớn nhất thế giới với hơn 5000 mẫu giống, trong có giống cho năng suất 18-25 tạ/ha và thâm canh có thể đạt 40 tạ/ha.

Mặt khác giá trị sinh học của đậu xanh rất quan trọng, 4 Bressani 1973 cho rằng phân đạm mà cơ thể đậu xanh hấp thụ và giữ lại được là 40,66 nên có tác dụng rất tốt, trong cải tạo và bồi dưỡng đất vì sau khi trồng đậu xanh đất tơi xốp và tăng được một lượng đạm khoảng 30-70 kg/ha. Tuy nhiên năng suất của cây đậu xanh rất thấp, khoảng 6-8 tạ/ha vì chưa được đầu tư đúng mức nên gần đây nhiều nước đã chọn được giống cho năng suất bình quân 10-12 tạ/ha với các ưu điểm là hạt to màu đẹp, thời gian sinh trưởng ngắn, chín tập trung, chống chịu một số sâu bệnh hại chính. Ngày nay, các nhà chọn giống đang nghiên cứu tạo ra giống đậu xanh có thể cải thiện năng suất và tính kháng bệnh. Ấn Độ cso 22 trung tâm trên khắp cả nước nghiên cứu về cây đậu xanh, Thái Lan cũng có nhiều trung tâm viện trường tham gai nghiên cứu về cây đậu xanh.1 Tình hình sản xuất đậu xanh của thế giới giai đoạn năm 2014-2018 Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (triệu tấn) 2014 11,5 6,1 10,4 2015 11,9 9,2 11,1 2016 13,3 8,8 11,7 2017 12,3 9,4 11,6 2018 13,5 9,7 13,1 (Nguồn: Số liệu thống kê của FAO 2019) Qua bảng trên, ta thấy diện tích trồng đậu xanh tăng lên khá cao từ năm 2014 là 11.5 triệu ha và năm 2018 là 13.5 triệu ha, tăng hơn 2 triệu ha trong vòng 5 năm trở lại.

Năng suất cũng tăng mạnh vào năm 2015 là 9.2 tạ/ha so với năm 2014 chỉ đạt khoảng 6. Các năm sau đó năng suất đậu xanh đều tăng, cao nhất là năm gần đây 2018 đạt 9. Diện tích trồng đậu xanh tăng, do đó sản lượng đậu xanh thu được cũng tăng lên. Cụ thể, năm 2014 sản lượng đậu xanh chỉ đạt 10.4 triệu tấn so với năm 2018 tăng lên 13.1 triệu tấn, tăng thêm hơn 2.7 triệu tấn so với thời điểm 5 năm trước đó.

5 Như vậy, tình hình sản xuất đậu xanh trên thế giới đều tăng cả về diện tích và năng suất. Các giống đậu xanh mới cho năng suất cao và chống chịu được các điều kiện ngoại cảnh càng ngày càng được các nhà khoa học chú ý và nghiên cứu kĩ hơn. Bên cạnh đó, việc áp dụng các tiến bộ kĩ thuật trong canh tác đậu xanh ngày càng được ưa chuộng. Một số vùng đã áp dụng các tiến bộ kĩ thuật và thử nghiệm các giống mới cho năng xuất khá cao được thể hiện qua bảng 2.2 Tình hình sản xuất đậu xanh của một số vùng có diện tích, năng suất và sản lượng lớn trên thế giới năm 2018 Diện tích Năng suất Sản lượng Tên nước (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) Châu Á 12.067 Châu Phi 483 11 531 Ấn Độ 9.832 Pakistan 992 7,6 751 Úc 573 14,2 813 Iran 550 5,4 295 Myanmar 335 14,6 490 (Nguồn: Số liệu thống kê của FAO 2019) Bảng trên cho biết Châu Á là vùng có diện tích canh tác đậu xanh lớn nhất với hơn 12.079 nghìn ha, sản lượng đạt hơn 11 nghìn tấn.

Tuy nhiên, vùng này lại có năng suất trung bình vào 9. Ấn Độ là vùng có diện tích trông đậu xanh đúng thứ 2 sau Châu Á với hơn 9.600 nghìn ha, năng suất đạt 9.2 tạ/ha kéo sản lượng lên hơn 8.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu sinh trưởng đậu xanh trong điều kiện lạnh nhân tạo - Khóa luận tốt nghiệp là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích khả năng thích nghi và phát triển của cây đậu xanh trong môi trường lạnh nhân tạo. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp những hiểu biết quan trọng về sinh lý thực vật mà còn mở ra hướng ứng dụng trong nông nghiệp, đặc biệt là ở các vùng có khí hậu lạnh. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, nhà nghiên cứu và nông dân quan tâm đến việc cải thiện năng suất cây trồng trong điều kiện khí hậu bất lợi.

Để mở rộng kiến thức về tác động của điều kiện môi trường đến cây trồng, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá và dự báo tác động do thiên tai đến trồng trọt trên địa bàn tỉnh Nghệ An có xét đến yếu tố biến đổi khí hậu. Nếu bạn quan tâm đến các giải pháp nông nghiệp bền vững, Luận văn thạc sĩ phát triển sản xuất chè bền vững theo hướng VietGAP trên địa bàn huyện Đại Từ tỉnh Thái Nguyên là một tài liệu đáng đọc. Ngoài ra, để hiểu rõ hơn về ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng cây trồng, hãy khám phá Luận văn nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến sinh trưởng phát triển hoa đồng tiền lùn Gerbera Jamesonii trồng chậu tại Thái Nguyên. Mỗi tài liệu này đều mang đến góc nhìn sâu sắc và bổ sung kiến thức chuyên ngành một cách toàn diện.