ĐẶT VẤN ĐỀ 1. Tính cấp thiếp của đề tài Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng ngành nông nghiệp Việt Nam có nhiều cơ hội mới đồng thời cũng có rất nhiều thách thức lớn. Ngành nông nghiệp nước ta phải cạnh tranh với những nước có nền nông nghiệp phát triển trên thế giới, đặc biệt khi rào cản thuế quan không còn thì sự cạnh tranh sẽ khốc liệt hơn rất nhiều. Việc tăng năng suất cây trồng nói chung và cây đậu tương nói riêng nó mang tính cấp thiết của ngành nông nghiệp nước ta hiện nay, đồng thời chúng ta cần phải xây dựng cho chiến lược phát triển nông nghiệp hiện đại có tính bền vững cao.
Cây đậu tương (tên khoa học: Glycine max. L) thuộc cây họ đậu, là cây công nghiệp ngắn ngày. Nó được xem là “cây thần diệu”, còn được ví là “vàng mọc từ đất”… sở dĩ cây đậu tương được đánh giá cao như vậy là do giá trị kinh tế của nó mang lại lớn. Giá trị kinh tế của cây đậu tương được quyết định bởi các thành phần dinh dưỡng quan trọng chứa trong hạt đậu tương bao gồm: protein chiếm khoảng 36 - 46%, lipit biến động từ 16 - 24%, gluxit 10 - 15%.
Trong hạt đậu tương chứa đầy đủ và cân đối các loại axit amin, đặc biệt là các axit amin không thay thế như triptophan, leuxin, Izoloxin, valin, lizin, methionin. Ngoài ra còn các loại muối khoáng như Ca, Fe, Mg, Na, P, K…, các vitamin B1, B2, D, K, E. Protein của đậu tương có phẩm chất tốt, có thể thay thế hoàn toàn đạm động vật trong khẩu phần ăn hàng ngày của con người. Đậu tương có thể được chế biến thành 600 loại thực phẩm khác nhau, bao gồm các loại thức ăn cổ truyền: đậu phụ, tương chao, sữa đậu nành,.
ngoài ra còn có thể chế biến thành bánh đậu tương, bacon đậu tương, đậu hũ cheese, và n 2 các loại thịt nhân tạo … (Trần Đình Long, 2000)[15] tất cả các loại sản phẩm đều thơm ngon và có giá trị dinh dưỡng cao. Kết quả nghiên cứu của Bùi Tường Hạnh – 1997[8] cho thấy trong hạt đậu tương có chất IZOFLAVONE có tác dụng làm giảm đáng kể lượng cholesterol trong máu khi sử dụng các sản phẩm làm từ đậu tương. Trong công nghiệp dầu đậu tương được sử dụng làm sơn, si, mực in, xà phòng, chất dẻo cao su nhân tạo … (Đoàn Thị Thanh Nhàn và cs 1996)[11] đậu tương còn cung cấp nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm, ngành công nghiệp ép dầu. Trong điều kiện nhiệt đới nóng, ẩm như nước ta thì đậu tương sẽ đưa vào hệ thống luân canh, xen canh, gối vụ với các loại cây trồng khác góp phần nâng cao năng suất cây trồng, đồng thời nâng cao hiệu quả sửa dụng đất.
Vấn đề này rất có ý nghĩa trong việc chuyển đổi cơ cấu và đa dạng hóa cây trồng ở nước ta hiện nay, đặc biệt là chiến lược thâm canh tăng vụ. Trước những nguồn lợi to lớn do cây đậu tương đem lại, cũng như để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm đậu tương ở nước ta, đồng thời góp phần đưa chăn nuôi thành ngành sản xuất chính, chúng ta cần quan tâm phát triển đậu tương theo hướng vừa tăng năng suất, vừa tăng diện tích. Trong đó, năng suất là yếu tố quan trọng, bởi tăng năng suất sẽ làm giảm giá thành sản phẩm trên một đơn vị diện tích. Do đó, cần nhanh chóng nghiên cứu chọn tạo ra những giống có năng suất cao, phẩm chất tốt có khả năng thích nghi với điều kiện sinh thái của mỗi vùng.
Xuất phát từ thực tiễn năng suất đậu tương của Việt Nam so với năng suất đậu tương của thế giới còn thấp là do nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng trong đó giống là một trong những nguyên nhân chính. Có nhiều biện pháp chọn tạo ra giống đậu tương mới phục vụ cho sản xuất trong đó biện pháp nhập nội để đánh giá chọn lọc ra giống tốt phù hợp với điều kiện sinh thái là n 3 biện pháp nhanh nhất và rẻ tiền nhất. Từ thực tiễn trên chúng tôi đã thực hiện đề tài: “Nghiên cứu khả năng sinh trưởng, phát triển của một số dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc trong vụ Hè - Thu 2016 tại Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài Tìm ra được những dòng đậu tương có khả năng sinh trưởng, phát triển tốt, chất lượng tốt, năng suất cao phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng để phục vụ cho sản xuất đại trà.
Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Đề tài là công trình nghiên cứu về khả năng sinh trưởng, phát triển và năng suất cá thể của các dòng đậu tương nhập nội từ Hàn Quốc. Các kết quả nghiên cứu đạt được sẽ góp phần cung cấp số liệu khoa học cho công tác nghiên cứu và chọn tạo giống đậu tương. Mặt khác kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở và gợi ý cho các nghiên cứu tiếp theo về cây đậu tương.
Ý nghĩa thực tiễn Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp lựa chọn được những dòng đậu tương có khả năng sinh trưởng tốt, năng suất cao, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng. n 4 Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học và thực tiễn của đề tài 2. Cơ sở khoa học của đề tài Để đáp ứng nhu cầu lương thực, thực phẩm cho toàn cầu trong bối cảnh khí hậu và môi trường sống ngày càng biến đổi phức tạp hiện nay, chúng ta cần xây dựng được một nền sản xuất tiên tiến, dựa trên cơ sở khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới.
Cùng những yếu tố như: giống, nước, phân bón, kỹ thuật thâm canh, nhưng vẫn phải bảo vệ được môi trường. Trong đó, giống là yếu tố quan trong hàng đầu, sử dụng giống tốt cho năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu bênh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận. Bên cạnh đó phải có khả năng cải tạo được đất, hạn chế ô nhiễm môi trường đây là mục tiêu hàng đầu của việc phát triển một ngành nông nghiệp tiên tiến, có tính bền vững cao. Đậu tương được sản xuất với các mục tiêu khác nhau.
Cho nên công tác chọn giống cần tập trung vào một số mục tiêu sau: - Giống phải cho năng suất cao phù hợp với điều kiện từng vùng. - Giống phải cho chất lượng hạt tốt để phục vụ cho nhu cầu của thị trường và xuất khẩu. - Giống phải có hàm lượng dinh dưỡng cao để phục vụ cho các ngành công nghiệp. Hiện nay có rất nhiều cách để chọn tạo ra những giống đậu tương cho năng suất cao, thích hợp với nhiều vùng sinh thái.
Trong đó nhập nội giống là một phương pháp hiệu quả và tiết kiệm thời gian nhất. Tuy nhiên các giống cây trồng nhập nội và có điều kiện sinh thái khác xa so với nơi chúng được tạo ra. Do đó chúng ta cần có những nghiên cứu đánh giá tính thích nghi của n 5 giống, hạn chế số lượng đậu tương nhập khẩu hàng năm và mang lại hiệu quả kinh tế cho người trồng. Cơ sở thực tiễn của đề tài Hiện nay, ở hầu hết các tỉnh vùng núi phía Bắc diện tích đất hoang hóa nhiều, tập trung chủ yếu ở những vùng không chủ động nước, đất đồi thấp, hoặc ở những vùng này trồng một số cây trồng cho giá trị kinh tế thấp.
Do đó việc đưa cây trồng cạn nói chung và cây đậu tương nói riêng vào sản xuất ở các vùng này là rất cần thiết. Để tăng khả năng sử dụng đất, góp phần cải tạo đất, chống xói mòn, thoái hóa đất, nâng cao thu nhập cho người dân, cải thiện đời sống cộng đồng. Tình hình sản xuất, chọn tạo giống đậu tƣơng trên thế giới 2. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới Cây đậu tương có vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế, bởi giá trị kinh tế, hàm lượng dinh dưỡng và khả năng cải tạo đất.
Xuất phát từ đó mà cây đậu tương được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đầu tư sản xuất làm cho diện tích, năng suất và sản lượng được tăng qua các năm. Tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới trong những năm gần đây được trình bày ở bảng 2.1: Tình hình sản xuất đậu tƣơng trên thế giới 5 năm gần đây Năm Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lƣợng (tấn) 2010 102.056 Nguồn: FAOSTAT Browse Data, 2017[23] n 6 Căn cứ vào số liệu thực có trong bảng 2.1 cho ta thấy tình hình sản xuất đậu tương trên thế giới hàng năm được tăng lên. Về diện tích trồng đậu tương trên thế giới năm 2014 là 117.624 ha so với năm 2010 thì diện tích trồng đậu tương tăng lên khoảng 15 triệu ha. Về năng suất đậu tương trên thế giới năm 2010 đạt 25,772 tạ/ha đến năm 2013 năng suất giảm xuống còn 22,928 tạ/ha.
Đến năm 2014 thì năng suất đậu tương trên thế giới tăng lên 26,201 tạ/ha. Về sản lượng đậu tương trên thế giới năm 2010 đạt 264.424 tấn đến năm 2012 giảm xuống còn 241. Cho đến năm 2014 thì sản lượng đậu tương trên thế giới đạt 308. Điều này càng khẳng định vị trí quạn trọng của cây đậu tương trong sản xuất nông nghiệp.
Các nước sản xuất lớn như: Mỹ, Brazil, Argentina, Trung Quốc, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Úc. Năm 2000 Mỹ sản xuất được 75 triệu tấn hạt. Phần lớn sản lượng đậu tương được dùng cho chăn nuôi và xuất khẩu, mặc dù nhu cầu tiêu thụ đậu tương đang tăng lên, tại Mỹ có tới 80% lượng dầu ăn được chế biến từ đậu tương. Hiên nay, đậu tương được trồng ở nhiều quốc gia và các khu vực trên thế giới, qua khảo sát cho thấy sản xuất đậu tương ở khu vực Bắc Mỹ đã vượt xa vùng Viễn Đông nơi khởi nguồn của cây đậu tương.
Đậu tương là một trong 5 cây thực phẩm quan trọng ở Hoa Kỳ, công nghệ sinh học đang tập trung vào cây đậu tương, theo số liệu thống kê của Bộ Nông Nghiệp Hoa Kỳ thì năm 2008 diện tích trồng đậu tương chuyển gen của nước này chiếm 92% tổng diện tích đậu tương của cả nước. Hiện nay, Mỹ là nước đứng đầu thế giới về sản xuất đậu tương, với diện tích trung bình đạt khoảng 85 triệu ha, sản lượng đạt khoảng 243 triệu tấn vào năm 2013, chiếm khoảng 76% diện tích và 87% sản lượng đậu tương trên thế giới. Đậu tương là một mặt hàng chiến lược trong xuất khẩu và thu đổi ngoại tệ. n 7 Nguyên nhân cơ bản để đậu tương ở Mỹ có năng suất cao và ổn định qua các năm là do: Mỹ đã áp dụng đồng bộ các biện pháp kỹ thuật, thâm canh để tăng năng suất.