Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Một số đặc điểm về loài Khôi tía Khôi tía có tên Khoa học: Ardisia silvestris Pitard. Tên tiếng Việt: Khôi tía, Cơm nguội rừng, Lá khôi tía, Khôi nhung, Đơn tướng quân. Khôi tía thuộc họ Đơn nem (Myrsinaceae), bộ Anh Thảo (Primulalales).
Phân bố và nơi sống: Cây phân bố ở Việt Nam và Trung Quốc (Hải Nam). Ở Việt Nam, có gặp từ Lào Cai, Lạng Sơn, Hà Giang, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây, Hòa Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An vào tới Quảng Nam và Đà Nẵng. Cây ưa bóng dưới tán rừng rậm ẩm ướt, phát triển tốt trên lớp đất nhiều mùn trong rừng nguyên sinh, ở độ cao từ 400 - 1200m (Phạm Hoàng Hộ, 2006). Đặc điểm thực vật: Cây nhỏ cao khoảng 50 -200cm, không lông, thân rỗng xốp, ít phân nhánh, thân non có sẹo lá sâu, có vỏ màu xám.
Lá mọc so le, sít nhau ở đầu thân, phiến hình giáo ngược hoặc trứng ngược dài 20 - 40cm, rộng 6 - 12cm, đầu thon và nhọn, gốc thon dài và men rộng ở gốc, màu lục sẫm ở trên, nhạt màu hơn ở dưới hoặc có màu đỏ tím, mép khía răng cưa nhỏ; gân bên 28 - 32 đôi, cuống lá không có. Cụm hoa ở bên, thành chùm dài 5 - 10cm, trục chính mang 4 - 6 trục thứ cấp mang mỗi cái 5 - 10 hoa tập hợp thành tán. Hoa mọc thành chùm, dài 10-15m, màu trắng pha hồng tím gồm 5 lá đài và 3 cánh hoa. Lá đài thuôn, nhọn, ở mép có lông mi, có răng, có tuyến.
Cánh hoa xoan, ngọn giáo, tù, có tuyến. Nhị có chỉ nhị ngắn. Bầu hình trứng, vòi mảnh, đầu nhụy hình chấm. Quả mọng, khi chín màu đỏ.
Hạt hình cầu, hơi dẹp, có một hốc nhỏ ở gốc. Mùa hoa tháng 5 - 7, mùa quả chín tháng 10 - 12 năm sau. Tái sinh tự nhiên bằng hạt (Sách đỏ Việt Nam, 2007). Tại Việt Nam loài này được đánh giá là sẽ nguy cấp.
Mức độ đe dọa: Bậc V. Tuy phân bố nhiều nơi nhưng số lượng không nhiều do tái sinh hạt kém, lại bị khai thác với số lượng lớn nên mất nguồn hạt để tái sinh. Mặt khác những nơi có cây con mọc lại bị khai thác phá rừng mạnh nên có thể bị tuyệt chủng vì không còn môi trường sống thích hợp (Đỗ Tất Lợi, 2004). Thành phần hóa học và tác dụng dược lý:Thành phần chính là Tanin có công dụng trung hòa, làm giảm độ acid của dạ dày, giảm đau, đặc biệt có tác dụng làm se vết loét, kích thích lên da non và làm lành vết thương nên được dùng để trị viêm loét Luan van 4 dạ dày tá tràng.
Lá Khôi tía được sử dụng làm thuốc chữa đau bụng, đau dạ dày; còn dùng nấu nước tắm sài lở và giã đắp nhọt cho trẻ em. Rễ cũng được dùng uống chữa kiết lỵ ra máu, đau yết hầu và đau cơ nhục (Đỗ Tất Lợi, 2004). Thị trường: Lá Khôi tía trên thị trường giá bán khoảng 40.000 đồng/ 1kg lá tươi, và 220.000 đồng/kg lá khô. Cây Khôi tía tại khu vực nghiên cứu 1.
Những nghiên cứu về loài Khôi tía ở Việt Nam Nói về tác dụng chữa bệnh của cây khôi tía phải kể đến nghiên cứu tác dụng của chế phẩm HPmax trong điều trị loét hành tá tràng có Helicobacter pylori của Phạm Bá Tuyến với việc kết hợp cây Cao khô Chè dây, Dạ cẩm và Lá Khôi. Kết quả Hpmax có tác dụng chống loét dạ dày tá tràng, giảm đau, liền sẹo, giảm thể tích dịch rỉ viêm, chống viêm mạn tính, Phạm Bá Tuyến (2014). Về thành phần hóa học của các loài trong chi Aridisia, theo Lưu Tuấn Anh (2013), đã Nghiên cứu thành phần hóa học loài Ardisia balansana thuộc họ Đơn nem (Myrsinaceae) ở Việt Nam, kết quả đã thành công trong việc phân lập và xác định cấu trúc hóa học của các hợp chất phân lập được từ lá, thân, rễ cây Ardisia balansana. Mới đây trong nghiên cứu về thành phần hóa học và hoạt tính sinh học một số loài Ardisia thuộc họ Myrsinaceae ở Việt Nam của Trịnh Anh Viên (2017) đã phân lập và xác định được cấu trúc của 40 hợp chất trong đó có 2 hợp chất mới, 12 hợp chất lần đầu tiên được phân lập từ chi Ardisia; ngoài ra trong nghiên cứu Luan van 5 còn thăm dò các hoạt tính kháng nấm, kháng khuẩn, kháng virut và hoạt tính gây độc tế bào của một số hợp chất phân lập được.
Một số nghiên cứu nhân giống Khôi tía bằng giâm hom được tiến hành sử dụng kích thích ra rễ NAA với nồng độ 250ppm (Đặng Thị Minh (2013); Nguyễn Đình Ưng và Cs (2009). Nghiên cứu nhân giống cây Khôi tía (Ardisia sylvestris Pitard) bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro được tác giả Nguyễn Văn Việt và cộng sự nghiên cứu năm 2016, kết quả nghiên cứu cho thấy, cảm ứng tạo đa chồi trên môi trường khoáng MS bổ sung 0,4mg/l BAP, 0,2 mg/l Kinetin và 30g/l Sucroza, cho tỷ lệ mẫu tạo cụm chồi 97,77% với hệ số nhân đạt 3,66 lần/chu kỳ nhân giống sau 6 tuần nuôi cấy. Chồi ra rễ 93,33%, số rễ trung bình 4,14 rễ/cây và chiều dài rễ Sucroza sau 6 tuần nuôi cấy. Các nghiên cứu về nhân giống cây Khôi Nhung trong thời gian qua đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực.
Trong nghiên cứu nhân giống và trồng thử nghiệm cây Lá khôi tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long của kỹ sư Nguyễn Đình Ưng năm 2009. Kết quả trong thời gian thực hiện 36 tháng (tháng 10.2012) đề tài đã nhân giống được 4.000 cây Lá khôi và xây dựng thành công mô hình trồng thử nghiệm cây lá Khôi trên diện tích 1 ha, tỷ lệ sống đạt 92,5%, chiều cao cây trung bình đạt 99,6 cm, đường kính gốc 2,6 cm. Đồng thời nhóm thực hiện đề tài cũng đã xây dựng được bản hướng dẫn kỹ thuật nhân giống và trồng cây lá Khôi. Kết quả thu được của đề tài đã góp phần bảo tồn nguồn gen loài cây dược liệu quý này tại Vườn Quốc gia Bái Tử Long.
Những nghiên cứu về loài Khôi tía trên thế giới Khôi tía có tên khoa học là Ardisia silvestris Pitard, thuộc họ Myrsinaceae (Thomas, 2006). Loài này phân bố ở một số tỉnh như Hải Nam, Quảng Tây, Quảng Đông của Trung quốc. Là cây bụi, cao 1 - 2m, phân cành ít; vỏ màu nâu tía hay nâu xám (Thomas, 2006). Tại Trung quốc, lá Khôi tía đang được thu mua với giá 25 tệ (tương đương 60.000 đồng Việt Nam).
Trung Quốc là nước có lịch sử rất dài trong sử dụng các loài Khôi tía như một loại thảo dược quý (Bulpitt, 2005). Theo y học cổ truyền, lá Khôi tía có chứa các thành phần chính là tanin và glucosid, có tác dụng chống viêm, làm se vết loét, làm liền sẹo và giảm sự gia tăng axit dạ dày. Nhờ cơ chế này, lá Khôi tía có tác dụng điều trị dạ dày tá tràng, làm giảm bớt ợ chua, nóng rát vùng thượng vị, kích thích lên da non và làm lành dạ dày, tá tràng nhanh chóng, giúp người bệnh có cảm giác dễ chịu khoan khoái (Thomas, 2006). Luan van 6 Các loài thực vật thuộc chi Ardisia họ Myrsinaceae đã được nghiên cứu từ rất sớm trên thế giới.
Ngay từ năm 1968, Ogawa Hideko và các cộng sự đã tìm thấy các hợp chất ardisiaquinon A, B, C từ loài Ardisiasieboldi của Nhật Bản. Trong nghiên cứu về các hợp chất Triterpene Saponins chiết suất từ Ardisia crispa của Jansakul C. (1986) đã phân lập trong rễ Ardisia crispa có 19 hợp chất tritecpen saponin trong đó 2 hợp chất ardisiacrispin A & B còn được tìm thấy từ loài A. Năm 1987, từ rễ và thân loài A.
cornudentata, lần đầu tiên đã phân lập được 2 hợp chất 1,4-benzoquinon trong bài nghiên cứu Quinones từ Ardisia cornudentata của Tian Z. Nghiên cứu phân lập Antitubercular Resorcinol Analogs và Benzenoid C- Glucoside từ rễ cây Ardisia cornudentata của ChunPo Chang và cộng sự (2010) đã phân lập gốc rễ của Ardisia Cornudentata Mez thành ba hợp chất mới là 3-methoxy-2- methyl-5-pentylphenol, 3-methoxy-2-methyl-5-(1′-ketopentyl)phenol và cornudoside và 26 hợp chất khác đã được biết đến, 13 trong số những hợp chất này cho thấy các hoạt động chống vi trùng, 2 hợp chất cho kết quả chống lại tế bào ung thư. Đánh giá chung về tình hình tổng quan nghiên cứu Nhìn chung các nghiên cứu về Loài Khôi tía ở Việt Nam và trên thế giới các tác giả đã đưa ra được đặc điểm hình thái, đặc điểm phân bố chung chung của loài Khôi tía. Tuy nhiên chưa so sánh được sự sai khác về đặc điểm hình thái, phân bố Khôi tía giữa các vùng khác nhau.
Các nhà khoa học cũng đã nghiên cứu và công bố về thành phần hóa học và tác dụng dược lý của loài Khôi tía từ đó cho thấy được tầm quan trọng và tác dụng chữa bệnh hiệu quả của loài. Các nghiên cứu về bảo tồn và nhân giống loài Khôi tía trên thế giới và Việt Nam cũng đã có một số công trình được công bố, tuy nhiên nghiên cứu về nhân giống Khôi tía chưa nhiều, và áp dụng các phương pháp nhân giống hiệu quả và thích hợp cho từng vùng, địa phương chưa cụ thể. Chính vì vậy để bảo tồn và phát triển loài Khôi tía theo từng vùng miền địa phương, cần có các công trình nghiên cứu từ đặc điểm phân bố sinh thái, đặc điểm sinh học, các biện pháp nhân giống cho từng vùng cụ thể để đưa ra được kết quả tốt nhất áp dụng vào thực tế triển khai mở rộng quy mô trồng loài Khôi tía đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người dân. Tổng quan về giâm hom Giâm hom là phương pháp nhân giống vô tính cây trồng bằng cơ quan sinh dưỡng.
Nhân giống vô tính bằng phương pháp giâm hom là phương pháp nhân giống đem lại hiệu quả cao và được áp dụng phổ biến cả trong và ngoài nước trong suốt thời gian qua. Phương thức này dựa trên cơ sở phân bào nguyên nhiễm không có sự kết hợp vật chất di truyền giao hợp giữa giao tử cái và giao tử đực nên cây mới tạo ra mang đầy đủ vật chất di truyền của cây mẹ (Lê Đình Khả và CS, 2003). Nhân giống bằng hom là phương pháp sử dụng đoạn thân, cành, lá để tạo ra 1 cây mới mang đặc tính di truyền của cây mẹ. Đây là phương pháp tương đối dễ thực hiện, hệ số nhân giống cao nên được áp dụng phổ biến trong công tác nhân giống cây trồng.
Các loại hom được dùng trong nhân giống: có thể là thân cây non, cành, lá, rễ.Hom thân và hom cành: là hom được cắt từ một phần của thân cây non, từ chồi vượt hoặc cành non của cây. Như một số loại tre, luồng. hom giâm có thể là một đoạn thân, một đoạn thân có gốc, đoạn cành hoặc đoạn gốc cành sát thân.